Đảo Thẻ Vàng nằm ở khu vực vịnh Bái Tử Long, cách Cẩm Phả khoảng 13km, cách thành phố Hạ Long 28km. Đảo thuộc xã đảo Thắng Lợi, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Điểm cao nhất trên đảo là 184m so với mặt biển, độ cao trung bình từ 80 đến 100m. Diện tích lúc triều thấp nhất là 12,25km² - khi triều cao nhất còn 10km².
Núi đồi chiếm 95% diện tích đảo, có độ dốc lớn và phân cắt sâu nên mùa mưa các suối chảy nhanh và chảy tràn; còn trong mùa khô thì suối cạn kiệt do không giữ được nguồn nước. Trên đảo có một ít cư dân sinh sống.
Rừng ở đảo phát triển trên trên đất feralit với một số loại cây thân gỗ như lim, trầm, hanu, cheo, ngát, vôi thuốc, trám trắng. Một ít chỗ có tre nứa xen kẻ. Trên đá vôi bị phong hóa thường thấy vàng anh, táu mật, sến đất, sâng... v.v. Riêng ở vùng ngập mặn có sú vẹt, cóc, cây mắm.
Rừng trên đảo ngày nay bị tàn phá nhiều, các loại gỗ quý bị khai thác bừa bãi nên cạn kiệt. Động vật trên đảo có lợn rừng, sơn dương, nai, hoẵng, khỉ, trăn... nhưng đã bị săn bắt dữ dội nên ngày càng hiếm.
Bãi tắm ở trên đảo tuy nhỏ nhưng sạch và đẹp. Hiện nay, đảo Thẻ Vàng đang được đầu tư để trở thành khu du lịch sinh thái. Trên đảo đang xây dựng khu du lịch để đón khách nghỉ cuối tuần. Một bãi tắm nhân tạo cũng đã được hình thành. Trong tương lai, một hệ thống nhà nghỉ với các dịch vụ du lịch khép kín sẽ được xây dựng để phục vụ du khách có nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn cuối tuần.
Du lịch, GO!
Tin tức và Sự kiện · Tin bài về Du lịch · Hoạt động xúc tiến · Tin ... DU LỊCH Võ cổ truyền Bình Định Đặc sản Bình Định Tour nội địa Tour quốc tế Du ...
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013
Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013
Ra Hòn Sơn nghe chuyện liêu trai
(ĐVO) - Hòn Sơn (Sơn Rái) không phải hòn đảo quá hoang sơ để những tay phượt thủ thử sức, nhưng nó quyến rũ khi được bao phủ bởi những câu chuyện đậm màu sắc liêu trai và đỉnh Ma Thiên Lãnh kỳ bí.
Hòn Sơn nhìn từ xa như một quả núi khổng lồ, nằm giữa Hòn Tre và quần đảo Nam Du thuộc tỉnh Kiên Giang, cách đất liền khoảng 60 km. Để đến với Hòn Sơn, bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng tàu cao tốc đi từ Rạch Giá với hành trình 1 giờ 45 phút với giá 140.000 đồng/vé; hoặc trải nghiệm cảm giác nằm võng lênh đênh trên tàu thường suốt 4 giờ với giá vé chỉ 70.000 đồng/vé.
Truyền thiết Sân Tiên trên đỉnh Ma Thiên Lãnh
Hòn Sơn có 7 đỉnh núi dính liền vào nhau, các đỉnh núi đều có truyền thuyết gắn liền với tên gọi của riêng mình, nhưng Ma Thiên Lãnh là đỉnh núi nổi tiếng hơn cả. Không chỉ cao nhất với độ cao khoảng 450m so với mặt nước biển, đỉnh núi này còn gắn liền với những câu chuyện thần tiên mang đậm chất thơ và cả những câu chuyện “ngày nay” đầy màu sắc “kiếm hiệp” được người dân đảo truyền miệng nhau.
Theo truyền thuyết ngày xưa, trên đỉnh Ma Thiên Lãnh có một tảng đá bằng phẳng, với phong cảnh xung quanh rất đẹp nên nhiều tiên nữ thường xuống vui chơi tên gọi là Sân Tiên, là một bảo chứng cho câu chuyện đó.
Ngày nay, khi con người đến đây khai phá, trải qua hàng trăm năm, thỉnh thoảng có những tu sĩ và những kẻ buồn tình, sầu đời lên Sân Tiên tu thiền. Họ ẩn cư trong một hang đá có khắc dòng chữ “Mai Dương Kiếm Pháp”. Cuộc đời, tính tình và cách hành xử của những người này được người dân truyền miệng với những câu chuyện nửa hư nửa thực.
< Đường lên Ma Thiên Lãnh bắt đầu là hàng trăm bậc cấp đá, xi măng.
Để chinh phục đỉnh Ma Thiên Lãnh, bạn phải bắt đầu từ trung tâm Bãi Nhà theo hàng ngàn bậc cấp nằm giữa những rẫy chuối, vườn mãng cầu, xoài và những vạt rừng nguyên sinh.
Cái u u tịch tịch do cây rừng che hết ánh nắng và hai bên là cây cối um tùm cũng làm cảm giác bất an tăng lên. Những tiếng động vật kêu xung quanh làm người yếu bóng vía sởn da gà, nhất là khi đi chỉ 1 – 2 người. Tuy nhiên, nếu đi vào ngày nắng thì thật may mắn, bạn sẽ không lo nhiều muỗi mòng rắn rết, chỉ phải dè chừng một số đoạn lá khô trơn trượt dễ ngã.
Cách Bãi Nhà khoảng 2 km có một tượng Phật được người dân nơi đây gọi là Phật Lộ Thiên, đi thêm khoảng 400m nữa bạn sẽ gặp chùa Phổ Tịnh nằm giữa núi rừng. Sân Tiên cách đó khoảng 2 km.
< Một phần của Sân Tiên, nơi mà theo truyền thuyết kể lại, có tiên hạ phàm chơi đùa.
Khi lên Sân Tiên, bạn đừng mải mê ngắm toàn cảnh đất trời bao la, núi rừng hoang dã giữa biển xanh ngắt mà quên việc tìm hiểu những dấu tích của các “dị nhân” còn lưu khắc trên đá như tên, tuổi, ngày đến, ngày đi, số năm tu,…
Mọi mệt mỏi sẽ tan biến ngay khi tới đỉnh, nơi bạn có thể nhìn thấy cả núi, cả trời và biển xanh thăm thẳm. Nếu may mắn, bạn còn được chứng kiến cảnh bầy khỉ lâu năm vui đùa, chuyền từ cành nọ sang cành kia, hoặc chụp được ảnh những loài chim lạ đang bay ngang…
Hoang vắng, êm đềm
< Hang đá Mai Dương Kiếm Pháp, nơi có những vật dụng sinh hoạt làm bằng cây rừng của đạo sĩ, dị nhân nào đó.
Sau khi chinh phục đỉnh Ma Thiên Lãnh, Hòn Sơn còn có 5 bãi biển và 1 ghềnh đá hoang sơ, trong đó Bãi Bàng có phong cảnh đẹp nhất, nhiều cây dừa nghiêng nghiêng phủ bóng mát xuống một phần bãi cát trắng dài khoảng 1 km, bãi biển hoang vắng và êm đềm.
Đây là nơi thích hợp nhất để bạn tắm biển. Không chỉ có phong cảnh trữ tình, đây còn là bãi biển rất sạch sẽ. Đặc biệt, ở đây còn có dòng suối Tiên nước trong vắt chảy từ đỉnh Ma Thiên Lãnh xuống ngay Bãi Bàng làm nước ngọt cho bạn tắm sau khi vùng vẫy cùng sóng biển.
Tên gọi chính của đảo là Lại Sơn, một trong 4 xã đảo thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, người dân vẫn thường hay gọi đảo giản dị là Hòn Rái, Hòn Sơn hay Hòn Sơn Rái. Ngay từ cái tên của đảo đã có nhiều truyền thuyết. Có người nói, Hòn Rái có tên do trên đảo xưa có nhiều cây dầu rái, loại cây cho nhựa để xảm thuyền và quét lên vỏ thuyền chống nước biển ăn mòn. Nhưng không ai biết loài cây ấy bây giờ ở đâu.
Cũng có người cho rằng có tên như vậy là do đảo trước kia có nhiều rái cá sinh sống. Còn các cụ già thì kể vào khoảng năm 1777, lúc chạy trốn quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đến Hòn Sơn lánh nạn. Lúc ấy, có một con rái cá khổng lồ đã bắt rất nhiều tôm cá dâng cho ông. Tại mặt nam bãi Nhà với độ cao 300 mét, còn tảng đá có bài thơ tương truyền của Nguyễn Ánh để lại càng làm cho câu chuyện thuyết phục hơn.
Không ai biết đích xác chuyện nào là thật, chuyện nào là hư cấu nhưng người dân và khách phương xa đến đây vẫn tiếp thu tất cả, ghi nhớ tất cả để kể lại cho nhau, để tò mò và bị cuốn hút nhiều hơn.
Ngoài việc tham quan tận mắt và đắm chìm trong nước biển, nơi những cảnh đẹp nên thơ trên 4 bãi của xã đảo: bãi Giếng, bãi Bấc, bãi Bàng, bãi Nhà và bãi Thiên Tuế. Chúng ta còn có thể hiểu hơn về con người và cuộc sống dân đảo khi đến các di tích văn hóa lịch sử như Đền thờ Nam Hải Đại tướng quân, Đình thần Lại Sơn, Miễu Bà Cố Chủ, Thánh Thất Cao Đài, chùa Hải Sơn,...
Theo Tây Phương (báo Đất Việt)
Du lịch, GO!
Hòn Sơn nhìn từ xa như một quả núi khổng lồ, nằm giữa Hòn Tre và quần đảo Nam Du thuộc tỉnh Kiên Giang, cách đất liền khoảng 60 km. Để đến với Hòn Sơn, bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng tàu cao tốc đi từ Rạch Giá với hành trình 1 giờ 45 phút với giá 140.000 đồng/vé; hoặc trải nghiệm cảm giác nằm võng lênh đênh trên tàu thường suốt 4 giờ với giá vé chỉ 70.000 đồng/vé.
Truyền thiết Sân Tiên trên đỉnh Ma Thiên Lãnh
Hòn Sơn có 7 đỉnh núi dính liền vào nhau, các đỉnh núi đều có truyền thuyết gắn liền với tên gọi của riêng mình, nhưng Ma Thiên Lãnh là đỉnh núi nổi tiếng hơn cả. Không chỉ cao nhất với độ cao khoảng 450m so với mặt nước biển, đỉnh núi này còn gắn liền với những câu chuyện thần tiên mang đậm chất thơ và cả những câu chuyện “ngày nay” đầy màu sắc “kiếm hiệp” được người dân đảo truyền miệng nhau.
Theo truyền thuyết ngày xưa, trên đỉnh Ma Thiên Lãnh có một tảng đá bằng phẳng, với phong cảnh xung quanh rất đẹp nên nhiều tiên nữ thường xuống vui chơi tên gọi là Sân Tiên, là một bảo chứng cho câu chuyện đó.
Ngày nay, khi con người đến đây khai phá, trải qua hàng trăm năm, thỉnh thoảng có những tu sĩ và những kẻ buồn tình, sầu đời lên Sân Tiên tu thiền. Họ ẩn cư trong một hang đá có khắc dòng chữ “Mai Dương Kiếm Pháp”. Cuộc đời, tính tình và cách hành xử của những người này được người dân truyền miệng với những câu chuyện nửa hư nửa thực.
< Đường lên Ma Thiên Lãnh bắt đầu là hàng trăm bậc cấp đá, xi măng.
Để chinh phục đỉnh Ma Thiên Lãnh, bạn phải bắt đầu từ trung tâm Bãi Nhà theo hàng ngàn bậc cấp nằm giữa những rẫy chuối, vườn mãng cầu, xoài và những vạt rừng nguyên sinh.
Cái u u tịch tịch do cây rừng che hết ánh nắng và hai bên là cây cối um tùm cũng làm cảm giác bất an tăng lên. Những tiếng động vật kêu xung quanh làm người yếu bóng vía sởn da gà, nhất là khi đi chỉ 1 – 2 người. Tuy nhiên, nếu đi vào ngày nắng thì thật may mắn, bạn sẽ không lo nhiều muỗi mòng rắn rết, chỉ phải dè chừng một số đoạn lá khô trơn trượt dễ ngã.
Cách Bãi Nhà khoảng 2 km có một tượng Phật được người dân nơi đây gọi là Phật Lộ Thiên, đi thêm khoảng 400m nữa bạn sẽ gặp chùa Phổ Tịnh nằm giữa núi rừng. Sân Tiên cách đó khoảng 2 km.
< Một phần của Sân Tiên, nơi mà theo truyền thuyết kể lại, có tiên hạ phàm chơi đùa.
Khi lên Sân Tiên, bạn đừng mải mê ngắm toàn cảnh đất trời bao la, núi rừng hoang dã giữa biển xanh ngắt mà quên việc tìm hiểu những dấu tích của các “dị nhân” còn lưu khắc trên đá như tên, tuổi, ngày đến, ngày đi, số năm tu,…
Mọi mệt mỏi sẽ tan biến ngay khi tới đỉnh, nơi bạn có thể nhìn thấy cả núi, cả trời và biển xanh thăm thẳm. Nếu may mắn, bạn còn được chứng kiến cảnh bầy khỉ lâu năm vui đùa, chuyền từ cành nọ sang cành kia, hoặc chụp được ảnh những loài chim lạ đang bay ngang…
Hoang vắng, êm đềm
< Hang đá Mai Dương Kiếm Pháp, nơi có những vật dụng sinh hoạt làm bằng cây rừng của đạo sĩ, dị nhân nào đó.
Sau khi chinh phục đỉnh Ma Thiên Lãnh, Hòn Sơn còn có 5 bãi biển và 1 ghềnh đá hoang sơ, trong đó Bãi Bàng có phong cảnh đẹp nhất, nhiều cây dừa nghiêng nghiêng phủ bóng mát xuống một phần bãi cát trắng dài khoảng 1 km, bãi biển hoang vắng và êm đềm.
Đây là nơi thích hợp nhất để bạn tắm biển. Không chỉ có phong cảnh trữ tình, đây còn là bãi biển rất sạch sẽ. Đặc biệt, ở đây còn có dòng suối Tiên nước trong vắt chảy từ đỉnh Ma Thiên Lãnh xuống ngay Bãi Bàng làm nước ngọt cho bạn tắm sau khi vùng vẫy cùng sóng biển.
Tên gọi chính của đảo là Lại Sơn, một trong 4 xã đảo thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, người dân vẫn thường hay gọi đảo giản dị là Hòn Rái, Hòn Sơn hay Hòn Sơn Rái. Ngay từ cái tên của đảo đã có nhiều truyền thuyết. Có người nói, Hòn Rái có tên do trên đảo xưa có nhiều cây dầu rái, loại cây cho nhựa để xảm thuyền và quét lên vỏ thuyền chống nước biển ăn mòn. Nhưng không ai biết loài cây ấy bây giờ ở đâu.
Cũng có người cho rằng có tên như vậy là do đảo trước kia có nhiều rái cá sinh sống. Còn các cụ già thì kể vào khoảng năm 1777, lúc chạy trốn quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đến Hòn Sơn lánh nạn. Lúc ấy, có một con rái cá khổng lồ đã bắt rất nhiều tôm cá dâng cho ông. Tại mặt nam bãi Nhà với độ cao 300 mét, còn tảng đá có bài thơ tương truyền của Nguyễn Ánh để lại càng làm cho câu chuyện thuyết phục hơn.
Không ai biết đích xác chuyện nào là thật, chuyện nào là hư cấu nhưng người dân và khách phương xa đến đây vẫn tiếp thu tất cả, ghi nhớ tất cả để kể lại cho nhau, để tò mò và bị cuốn hút nhiều hơn.
Ngoài việc tham quan tận mắt và đắm chìm trong nước biển, nơi những cảnh đẹp nên thơ trên 4 bãi của xã đảo: bãi Giếng, bãi Bấc, bãi Bàng, bãi Nhà và bãi Thiên Tuế. Chúng ta còn có thể hiểu hơn về con người và cuộc sống dân đảo khi đến các di tích văn hóa lịch sử như Đền thờ Nam Hải Đại tướng quân, Đình thần Lại Sơn, Miễu Bà Cố Chủ, Thánh Thất Cao Đài, chùa Hải Sơn,...
Theo Tây Phương (báo Đất Việt)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013
Đảo Xanh giữa Đà Giang
(Danviet) - Ngay sát mép nước là những căn nhà gỗ lúc nào cũng soi bóng xuống mặt hồ Hoà Bình, nhón chân một cái là từ thuyền đã đặt chân được lên nhà. Nơi đây đã có những thiếu nữ trong trang phục người Mông đợi sẵn với nụ cươi như mời như gọi...
Sinh ra ở xã Quan Thần Sán, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai, chàng trai người Mông Cư Văn Thủy đi khắp trời tây, làm nhiều nghề khác nhau. Ai cũng nghĩ anh sẽ chọn Hà Nội để sống. Nhưng cứ về phố anh lại thấy mình tù túng, cứ phải xa rừng núi là anh lại buồn. Và như một cơ duyên, anh cưới cô gái Nguyễn Thị Kiều Vân người Hòa Bình...
... và chính điều này đã khiến anh chọn hòn đảo giữa lòng sông Đà tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, để sống và làm du lịch. Anh đã đặt tên nơi đây là đảo Xanh - như một cam kết không hóa chất, không khói thuốc và không túi nilong trên đảo để bảo vệ môi trường.
Người Mông đầu tiên ra đảo sống
Bên bếp lửa bập bùng giữa Đà Giang hùng vĩ, anh Cư Văn Thủy (43 tuổi) mở đầu câu chuyện ra đảo sống bằng câu nói “Có lẽ tôi là người Mông đầu tiên ra đảo sống, vì họ hàng, tổ tiên vẫn ở núi bao đời nay”.
Anh Thủy bắt đầu câu chuyện của mình khiến nhiều người phải ngỡ ngàng:
"Tôi sinh ra ở Quan Thần Sán, huyện Simacai, Lào Cai. Năm 1978, khi cha tôi xuống Hà Nội làm việc, anh em chúng tôi đi theo ông. Học hết phổ thông, tôi sang học tập ở Tiệp Khắc rồi cắm chốt bên trời tây 15 năm. Mùa đông ở tây, lại nhớ mùa rét ở núi rừng quê nhà và rồi tôi đã về nước.
Anh chị em đều muốn tôi ở Hà Nội nhưng miền ký ức về núi rừng đã thôi thúc tôi một mình lên Hà Giang lập nghiệp. Có kinh nghiệm, có được chút vốn, năm 2003, tôi lấy Vân- người thành phố Hòa Bình. Sau đó, hai vợ chồng kéo nhau về Lào Cai sinh sống, mở công ty xây dựng và quay về Simacai mải miết đi đấu thầu, thi công hành chục công trình..., công việc làm ăn cũng lúc lên lúc xuống.
Cách đây 4 năm, vợ chồng tôi tiết kiệm được ít tiền nên đã gửi về Hoà Bình để trồng rừng keo vì gia đình có nhận được 16ha đảo để chăm sóc bảo vệ. Năm 2010, tôi đưa vợ về Hoà Bình ăn tết, lên thăm rừng keo gia đình trồng được 3 năm, thấy cây keo khép tán, đẹp quá. Nhìn hòn đảo xanh ngút ngàn trong cái màu biêng biếc của sông Đà, thú thực tôi đi cũng nhiều nhưng chưa bao giờ thấy cảnh nước non lại đẹp như vậy... Tôi bàn với gia đình, quyết định dốc toàn bộ vốn liếng để xây dựng đảo thành một địa điểm du lịch, kết hợp với chăm sóc bảo vệ rừng.
Với suy nghĩ mình làm du lịch ở đây không thể phá vỡ cảnh quan, cũng như phải bảo vệ môi trường nên tôi quyết định làm du lịch xanh đúng nghĩa. Nghĩ là làm ngay, nhưng khi bắt tay vào rồi, thì 2 vợ chồng mới giật mình, chẳng có ai đi trước để học hỏi, hay tư vấn gì cả, mà chỉ nghĩ gì làm đó. Vợ tôi thì nói đùa: chắc anh là người Mông đầu tiên xây đảo. Đôi lúc công việc cũng rối tinh rối mù lên, nhưng cứ quyết là làm thôi, người Mông mà".
Thiên đường giữa Đà Giang
Từ Hà Nội, ngược quốc lộ 6 qua thành phố Hoà Bình 20km, tới cảng Thung Nai, đã có đò của đảo Xanh đợi sẵn. 20 phút bồng bềnh rẽ sóng Đà Giang là ta đã đặt chân được lên đảo Xanh. Ngay sát mép nước là những căn nhà gỗ lúc nào cũng soi bóng xuống mặt hồ Hoà Bình, nhón chân một cái là từ thuyền đã đặt chân được lên nhà. Nơi đây đã có những thiếu nữ trong trang phục người Mông đợi sẵn với nụ cươi như mời như gọi.
Và chỉ khi đặt chân lên đảo mới thấy hết được cái hài hoà giữa con người và cảnh sắc thiên nhiên nơi đây. Những bậc thang lên đảo cũng được chủ nhà kỳ công xây đắp với cọc tre đóng bao quanh, rồi lại trải lớp đá cuội lên..., tạo thành những bậc thang vàng óng ánh mà cứ mỗi bước đi lại nghe tiếng lách cách nhẹ nhẹ như những bản nhạc của núi rừng.
Trung tâm của đảo là ngôi nhà sàn lớn, bên dưới làm chỗ ăn uống, quầy bar, phía trên dành cho khách sinh hoạt, vui chơi tập thể. Còn những ai cần sự riêng tư thì đã có sẵn các căn nhà lá xinh xắn ẩn hiện trong rừng keo, nhìn ra mặt hồ nơi buổi sáng có thể ngắm mặt nước bảng lảng sương khói, còn buổi chiều mê đắm trong ánh hoàng hôn bên hồ...
Lên đảo, khách được tự do khám phá và hòa cùng thiên nhiên, thử sức cùng các trò chơi dân gian như bắn nỏ, tung còn, đập bóng, kéo co hay đốt lửa trại, bơi thuyền, tắm sông. Và sẽ thật thiếu sót nếu như không kể tới các món ăn quyến rũ của nơi đây. Tuy chỉ có 3 món chủ đạo là gà, cá và lợn, và nếu khách yêu cầu thì có thêm món tôm sông nướng là chanh, nhưng không một thực khách nào có thể thờ ơ chỉ sau một lần nếm thử.
Chủ nhân của đảo chia sẻ:
"Gà và lợn thì chúng tôi nuôi ngay trên đảo. Chúng được tự do đi kiếm ăn trên khu chăn nuôi của đảo và chính vì điều này nên nhiều khi cả chủ nhà và khách "dở khóc dở cười" khi phải đi bắt... đồ ăn.
Do lợn gà được nuôi thả hoang dã nên khi khách muốn thưởng thức đôi lúc phải huy động toàn bộ người của đảo đi tìm bắt... gà, lợn. Đôi khi cũng không túm được con nào vì đảo rộng mà gà, lợn chạy như... vận động viên.
Riêng món cá thì đảm bảo 100% là toàn cá sông Đà, nhưng khách ăn phải đặt trước thì mới có được cá từ những người câu chuyên nghiệp".
"Các món ăn nếu chỉ ngon thì chưa chắc đã làm khách hài lòng, mà còn phải sạch và bắt mắt nữa. Riêng khâu chế biến thì phải sạch. Trên đảo Xanh, khách lúc nào xuống bếp kiểm tra cũng được. Ngay cả khâu bưng bê cũng rất được chú ý, món ăn phải đặt ra khay, lúc để lên bàn ăn, nhân viên phải dùng 2 tay để đặt.
Còn tại khu vực ăn uống, khi khách đứng dậy là chúng tôi thu dọn ngay mọi thứ, kể cả mẩu thuốc lá cũng được nhân viên nhặt cho vào thùng rác cẩn thận. Tôi đã nói với nhân viên, mọi thứ mình có không phải do mình tạo ra, mà do khách hàng đem lại", anh Thủy tâm sự rất thật lòng.
Cứ đến cuối tuần, chị Vân lại tất bật cùng chồng chuẩn bị đón khách. Chị cho biết: "Vợ chồng tôi luôn chuẩn bị tỉ mỉ từ mớ rau, con cá, đàn gà, bầy lợn sao cho ngon và sạch. Với những sản phẩm sạch như trên đảo, chỉ thấy khách khen thức ăn ngon chứ chưa thấy ai chê bao giờ. Nhiều người còn mua gà, lợn để mang về nhà nữa.
Lượng khách đông dần, mình sẽ mở rộng trang trại chăn nuôi hơn nữa để làm du lịch khép kín, biến đảo Xanh thành một khu du lịch thân thiện với môi trường để khách đến với Đà Giang luôn được thưởng thức vẻ đẹp hùng vĩ của sông núi và không bao giờ phải bận lòng với hai từ chặt chém...".
Sau một bữa ăn ngon và ấm lòng với những bát rượu ngô sóng sánh, đặt lưng xuống sàn nhà gỗ ngay sát mép nước sông Đà, đánh một giấc ngủ ngon lành và sáng ra tỉnh dậy bởi tiếng sáo trên sông của vợ chồng anh đi đặt đó tôm... Một cảm giác nhẹ nhàng, hư ảo, sảng khoải đến lạ thường, điều mà có lẽ chỉ trên đảo Xanh giữa Đà Giang mới thấy.
Theo Nguyễn Gia Tưởng (Báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Sinh ra ở xã Quan Thần Sán, huyện Simacai, tỉnh Lào Cai, chàng trai người Mông Cư Văn Thủy đi khắp trời tây, làm nhiều nghề khác nhau. Ai cũng nghĩ anh sẽ chọn Hà Nội để sống. Nhưng cứ về phố anh lại thấy mình tù túng, cứ phải xa rừng núi là anh lại buồn. Và như một cơ duyên, anh cưới cô gái Nguyễn Thị Kiều Vân người Hòa Bình...
... và chính điều này đã khiến anh chọn hòn đảo giữa lòng sông Đà tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, để sống và làm du lịch. Anh đã đặt tên nơi đây là đảo Xanh - như một cam kết không hóa chất, không khói thuốc và không túi nilong trên đảo để bảo vệ môi trường.
Người Mông đầu tiên ra đảo sống
Bên bếp lửa bập bùng giữa Đà Giang hùng vĩ, anh Cư Văn Thủy (43 tuổi) mở đầu câu chuyện ra đảo sống bằng câu nói “Có lẽ tôi là người Mông đầu tiên ra đảo sống, vì họ hàng, tổ tiên vẫn ở núi bao đời nay”.
Anh Thủy bắt đầu câu chuyện của mình khiến nhiều người phải ngỡ ngàng:
"Tôi sinh ra ở Quan Thần Sán, huyện Simacai, Lào Cai. Năm 1978, khi cha tôi xuống Hà Nội làm việc, anh em chúng tôi đi theo ông. Học hết phổ thông, tôi sang học tập ở Tiệp Khắc rồi cắm chốt bên trời tây 15 năm. Mùa đông ở tây, lại nhớ mùa rét ở núi rừng quê nhà và rồi tôi đã về nước.
Anh chị em đều muốn tôi ở Hà Nội nhưng miền ký ức về núi rừng đã thôi thúc tôi một mình lên Hà Giang lập nghiệp. Có kinh nghiệm, có được chút vốn, năm 2003, tôi lấy Vân- người thành phố Hòa Bình. Sau đó, hai vợ chồng kéo nhau về Lào Cai sinh sống, mở công ty xây dựng và quay về Simacai mải miết đi đấu thầu, thi công hành chục công trình..., công việc làm ăn cũng lúc lên lúc xuống.
Cách đây 4 năm, vợ chồng tôi tiết kiệm được ít tiền nên đã gửi về Hoà Bình để trồng rừng keo vì gia đình có nhận được 16ha đảo để chăm sóc bảo vệ. Năm 2010, tôi đưa vợ về Hoà Bình ăn tết, lên thăm rừng keo gia đình trồng được 3 năm, thấy cây keo khép tán, đẹp quá. Nhìn hòn đảo xanh ngút ngàn trong cái màu biêng biếc của sông Đà, thú thực tôi đi cũng nhiều nhưng chưa bao giờ thấy cảnh nước non lại đẹp như vậy... Tôi bàn với gia đình, quyết định dốc toàn bộ vốn liếng để xây dựng đảo thành một địa điểm du lịch, kết hợp với chăm sóc bảo vệ rừng.
Với suy nghĩ mình làm du lịch ở đây không thể phá vỡ cảnh quan, cũng như phải bảo vệ môi trường nên tôi quyết định làm du lịch xanh đúng nghĩa. Nghĩ là làm ngay, nhưng khi bắt tay vào rồi, thì 2 vợ chồng mới giật mình, chẳng có ai đi trước để học hỏi, hay tư vấn gì cả, mà chỉ nghĩ gì làm đó. Vợ tôi thì nói đùa: chắc anh là người Mông đầu tiên xây đảo. Đôi lúc công việc cũng rối tinh rối mù lên, nhưng cứ quyết là làm thôi, người Mông mà".
Thiên đường giữa Đà Giang
Từ Hà Nội, ngược quốc lộ 6 qua thành phố Hoà Bình 20km, tới cảng Thung Nai, đã có đò của đảo Xanh đợi sẵn. 20 phút bồng bềnh rẽ sóng Đà Giang là ta đã đặt chân được lên đảo Xanh. Ngay sát mép nước là những căn nhà gỗ lúc nào cũng soi bóng xuống mặt hồ Hoà Bình, nhón chân một cái là từ thuyền đã đặt chân được lên nhà. Nơi đây đã có những thiếu nữ trong trang phục người Mông đợi sẵn với nụ cươi như mời như gọi.
Và chỉ khi đặt chân lên đảo mới thấy hết được cái hài hoà giữa con người và cảnh sắc thiên nhiên nơi đây. Những bậc thang lên đảo cũng được chủ nhà kỳ công xây đắp với cọc tre đóng bao quanh, rồi lại trải lớp đá cuội lên..., tạo thành những bậc thang vàng óng ánh mà cứ mỗi bước đi lại nghe tiếng lách cách nhẹ nhẹ như những bản nhạc của núi rừng.
Trung tâm của đảo là ngôi nhà sàn lớn, bên dưới làm chỗ ăn uống, quầy bar, phía trên dành cho khách sinh hoạt, vui chơi tập thể. Còn những ai cần sự riêng tư thì đã có sẵn các căn nhà lá xinh xắn ẩn hiện trong rừng keo, nhìn ra mặt hồ nơi buổi sáng có thể ngắm mặt nước bảng lảng sương khói, còn buổi chiều mê đắm trong ánh hoàng hôn bên hồ...
Lên đảo, khách được tự do khám phá và hòa cùng thiên nhiên, thử sức cùng các trò chơi dân gian như bắn nỏ, tung còn, đập bóng, kéo co hay đốt lửa trại, bơi thuyền, tắm sông. Và sẽ thật thiếu sót nếu như không kể tới các món ăn quyến rũ của nơi đây. Tuy chỉ có 3 món chủ đạo là gà, cá và lợn, và nếu khách yêu cầu thì có thêm món tôm sông nướng là chanh, nhưng không một thực khách nào có thể thờ ơ chỉ sau một lần nếm thử.
Chủ nhân của đảo chia sẻ:"Gà và lợn thì chúng tôi nuôi ngay trên đảo. Chúng được tự do đi kiếm ăn trên khu chăn nuôi của đảo và chính vì điều này nên nhiều khi cả chủ nhà và khách "dở khóc dở cười" khi phải đi bắt... đồ ăn.
Do lợn gà được nuôi thả hoang dã nên khi khách muốn thưởng thức đôi lúc phải huy động toàn bộ người của đảo đi tìm bắt... gà, lợn. Đôi khi cũng không túm được con nào vì đảo rộng mà gà, lợn chạy như... vận động viên.
Riêng món cá thì đảm bảo 100% là toàn cá sông Đà, nhưng khách ăn phải đặt trước thì mới có được cá từ những người câu chuyên nghiệp".
"Các món ăn nếu chỉ ngon thì chưa chắc đã làm khách hài lòng, mà còn phải sạch và bắt mắt nữa. Riêng khâu chế biến thì phải sạch. Trên đảo Xanh, khách lúc nào xuống bếp kiểm tra cũng được. Ngay cả khâu bưng bê cũng rất được chú ý, món ăn phải đặt ra khay, lúc để lên bàn ăn, nhân viên phải dùng 2 tay để đặt.
Còn tại khu vực ăn uống, khi khách đứng dậy là chúng tôi thu dọn ngay mọi thứ, kể cả mẩu thuốc lá cũng được nhân viên nhặt cho vào thùng rác cẩn thận. Tôi đã nói với nhân viên, mọi thứ mình có không phải do mình tạo ra, mà do khách hàng đem lại", anh Thủy tâm sự rất thật lòng.
Cứ đến cuối tuần, chị Vân lại tất bật cùng chồng chuẩn bị đón khách. Chị cho biết: "Vợ chồng tôi luôn chuẩn bị tỉ mỉ từ mớ rau, con cá, đàn gà, bầy lợn sao cho ngon và sạch. Với những sản phẩm sạch như trên đảo, chỉ thấy khách khen thức ăn ngon chứ chưa thấy ai chê bao giờ. Nhiều người còn mua gà, lợn để mang về nhà nữa.
Lượng khách đông dần, mình sẽ mở rộng trang trại chăn nuôi hơn nữa để làm du lịch khép kín, biến đảo Xanh thành một khu du lịch thân thiện với môi trường để khách đến với Đà Giang luôn được thưởng thức vẻ đẹp hùng vĩ của sông núi và không bao giờ phải bận lòng với hai từ chặt chém...".
Sau một bữa ăn ngon và ấm lòng với những bát rượu ngô sóng sánh, đặt lưng xuống sàn nhà gỗ ngay sát mép nước sông Đà, đánh một giấc ngủ ngon lành và sáng ra tỉnh dậy bởi tiếng sáo trên sông của vợ chồng anh đi đặt đó tôm... Một cảm giác nhẹ nhàng, hư ảo, sảng khoải đến lạ thường, điều mà có lẽ chỉ trên đảo Xanh giữa Đà Giang mới thấy.
Theo Nguyễn Gia Tưởng (Báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013
Giếng cổ kỳ lạ ở Lý Sơn
(Danviet) - Ở huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) có một cái giếng vô cùng nổi tiếng mà hầu như ai cũng biết: giếng Xó La, hay còn gọi là giếng Vua. Tuy nhiên, ít ai biết được rằng, trên hòn đảo nhỏ này còn có một cái giếng cổ đã hơn 200 năm tuổi có khả năng chứa được cả trăm người và… biết “nuốt” đồ vật.
< Thoạt nhìn thì giếng “lạ” cũng như bao cái giếng bình thường.
Về Lý Sơn vào một ngày cuối tháng 11, chúng tôi được thượng sĩ Lê Văn Phú, đang công tác tại Công an huyện Lý Sơn, kể cho nghe về những điều mà người dân ở thôn Đông, xã An Hải xầm xì về một cái giếng cổ và có nhiều chuyện lạ.
Những lời xầm xì về giếng “lạ” lúc họp thôn
Anh Phú cho biết, anh làm bên trinh sát và có nhiệm vụ nằm vùng để bám sát địa bàn xã An Hải. Với tính chất công việc đặc thù như thế nên hầu như ngày nào anh cũng “ăn nằm” ở đấy. Tất nhiên, những sự việc xảy ra hằng ngày trên địa phương này anh đều nắm rõ. Trong một lần được mời đi dự cuộc họp của bà con thôn Đông, anh có nghe mọi người truyền tai nhau câu chuyện về một cái giếng rất “lạ”. “Không riêng gì mình mà nhiều người cũng tỏ ra rất ngạc nhiên khi biết nơi mình đang sinh sống có cái giếng như thế”, anh Phú bộc bạch.
< Thượng sĩ Lê Văn Phú đang quan sát cái giếng.
Lúc này, cuộc điện thoại gọi có chuyện đột xuất nên anh Phú chỉ kịp “khoanh vùng” cho chúng tôi về nơi những lời đồn thổi đó rồi nhanh chóng lao vào công việc của mình. Theo sự chỉ dẫn của anh, chúng tôi đã tìm về khu dân cư số 3, thôn Đông, xã An Hải - nơi được xem “điểm nóng” của câu chuyện giếng “lạ”. Tuy nhiên, khung cảnh ở đây lúc này có vẻ vắng lặng. Sau một chút hỏi thăm thì mới biết do ở đây đa phần người dân đều làm nông nên đã lên rẫy làm đất để chuẩn bị cho vụ tỏi sắp tới.
Khi nghe chúng tôi đề cập đến giếng “lạ” thì chị Hà, bán tạp hóa, lấy khẩu trang ra và nói: “Tui cũng chỉ mới nghe à. Hai anh chạy tới chỗ cắt tóc kia kìa (chị Hà chỉ tay theo), ở đó có mấy ông già hôm họp thôn chắc là biết chuyện này đấy”.
Đúng như lời chị Hà, tiệm cắt tóc lúc này tuy không có khách nhưng có hai người đàn ông cao tuổi đang ngồi đánh cờ tướng. Thấy chúng tôi đi vào, một chàng thanh niên có vẻ là chủ tiệm chạy ra mời vào. Khi biết chúng tôi đến không phải để cắt tóc mà vì câu chuyện về giếng “lạ” thì anh ta không những không phật ý mà còn đon đả: “Thì hai anh cứ vào, vừa xem hai ổng đánh cờ vừa nghe kể về cái giếng đó”.
Một ông tên là Phan Thanh Tâm, 61 tuổi, cho biết: “Đó là đợt họp thôn hôm giữa năm. Sau khi mọi việc đã sắp xếp đâu vào đấy thì lúc bấy giờ mọi người mới thư thả nói mấy chuyện linh tinh. Lúc cao hứng, ông Dự có nói cho mọi người nghe về cái giếng ở nhà ổng. Thật ra cái giếng này bọn tui cũng biết, nhưng do lo làm ăn, vả lại cũng lâu quá rồi không thấy ai nhắc nên cũng quên bén đi. Có hôm đó ổng nói thì chúng tui mới nhớ chứ không thì cũng chẳng ai nhớ làm gì cho mệt”.
< Ông Dự bên giếng “lạ”.
Ngừng lại một chút để suy tính nước đi của quân cờ, ông Tâm tiếp tục: “Hồi còn nhỏ, tụi tui hay đến nhà ổng để chơi lắm. Lúc đó cái giếng chưa có bờ thành nên nhiều khi bọn tui lại “lọt” xuống dưới đó. Thấy xung quanh rộng nên cũng mò vô xem thử, tuy nhiên chỉ vô được một chút là bọn tui không đứa nào dám vô nữa vì sợ. Nghe đâu nó chứa được cũng cả trăm người chứ chẳng chơi đâu”.
… Đến nghe chủ nhân kể về giếng “lạ”
Sáng hôm sau, chúng tôi được anh Phú dẫn đường đến nhà ông Trần Dự, 63 tuổi, chủ nhân của giếng “lạ” mà người dân trong vùng gần đây đã có lời đồn thổi. Ông Dự cho biết, cái giếng này có từ thời cố nội của ông, đến nay dễ gì cũng trên dưới 200 năm nên có thể gọi đây là một giếng cổ. Ngay từ lúc ông còn bé, đã thấy đằng sau nhà mình có một cái giếng. Tuy nhiên, khi ấy với bản tính trẻ con nên ông cũng không để ý gì nhiều ngoài việc cái giếng đó là nơi để cung cấp nước sinh hoạt cho cả nhà ông và mấy hộ xung quanh. Một đặc điểm ông thấy khác biệt nhất mà bây giờ so với hồi đó là cái giếng đã được xây bờ thành hẳn hỏi. “Mà nói bây giờ cũng không phải, vì cái thành giếng từ lúc xây xong đến nay cũng được gần 50 năm rồi”, ông Dự cho biết thêm.
Nhằm mục đích đem lại sự “sinh động” cho khách, ông đề nghị dẫn chúng tôi ra sau nhà để vừa xem giếng vừa kể chuyện. Phải công nhận khoảnh đất sau nhà ông rất rộng, chủ nhân đã tận dụng làm vườn mãng cầu. Qua mấy liếp mãng cầu chúng tôi đã thấy được cái giếng “lạ” nằm giữa vườn mãng cầu xanh mơn mởn. Thoạt nhìn bên ngoài nó trông giống như bao cái giếng bình thường khác, cộng thêm một đặc điểm chung thường gặp ở những cái giếng dùng trong gia đình trên đảo Lý Sơn là nó cũng được “trang bị” một mô-tơ bơm nước chạy bằng điện để bơm lên bồn chứa, ngoài ra, nó không có một biểu hiện gì là lạ cả.
< Bên trong giếng “lạ”.
Giếng nước hơi nhỏ, bờ thành giếng cao tầm 0,5m, bán kính giếng khoảng 0,3m. Ông Dự cho biết chiều sâu của cái giếng tính từ đáy lên trên mặt đất chưa tới 5m, xung quanh được xây bằng đá vôi (nay đã phủ màu rêu xanh). Đoạn từ đáy giếng trở lên tầm khoảng 1,5m là đất đá vôi kết lại. Sau khi hướng dẫn chúng tôi đứng về góc không che ánh sáng, ông Dự chỉ tay xuống đáy giếng trong veo và bảo: “Đấy, các chú nhìn kìa, mạch nước của cái giếng này nó phun từ dưới lên chứ không phải chảy ngang”. Nhìn theo hướng chỉ tay của chủ nhân, chúng tôi thấy từ đáy giếng có khoảng ba, bốn “ụn nước” (theo cách nói của ông Dự) được tạo thành và cơ hồ, nếu như đủ mạnh thêm tí nữa thì nó sẽ vượt khỏi mặt nước mà phun thành vòi.
“Cái này chưa phải là lạ đâu, nếu có bấy nhiêu đó thì nhằm nhò gì, và làm sao mà người ta đồn thổi như những lời các chú nghe”, ông Dự nói như biết được thắc mắc trong lòng của chúng tôi. Rồi ông ngồi lên thành giếng, mặt quay về hướng vườn mãng cầu, ông bảo: “Ở dưới đáy giếng nó tạo thành cái bồn rộng lắm, chắc cũng phải hết cái vườn mãn cầu này”. Cũng theo ông, bồn giếng tuy rộng nhưng hơi “khiêm tốn” về chiều cao, ước chừng nó có thể chứa được cả trăm người trưởng thành nhưng phải ở tư thế đứng khom. Thêm một đặc điểm nữa là độ rộng của bồn giếng không đều mà mở rộng theo hướng tây.
Tuy nhiên, theo ông Dự, đó là chuyện của cách đây mấy chục năm còn bây giờ thì bồn giếng hơi bị thu hẹp do bị đất lở lấp lại. Lần ông xuống gần đây nhất cũng gần chục năm, lúc đó ông xuống để đặt lại vòi rồng máy bơm nước, ông định chui vô để xem nhưng thấy đất lở nhiều quá nên sợ. Từ đó đến nay chưa có ai xuống giếng cả. “Hồi đó cái hang để chui vô bồn giếng cao hơn so với mực nước của cái giếng nên bọn tui thường hay leo xuống để chui vô đó chơi… năm mười. Có những lần tui bị ông bà già dọa đánh đòn cũng xuống đó để trốn. Còn bây giờ thì nước giếng lấp luôn miệng hang nên không thể vô được”, ông Dự chia sẻ.
Lúc này thì bà Phạm Thị Tồn, 84 tuổi, mẹ của ông Dự cũng ra “góp vui” cùng chúng tôi: “Hồi cái giếng này chưa xây bờ thành nó thường hay… “nuốt” đồ vật, heo gà lắm”. Hỏi ra mới biết, do không có bờ thành nên những vật nuôi trong nhà thường hay bị rớt xuống giếng. Những con vật này khi rớt xuống lại chui vô bồn giếng và ở luôn trong đấy. “Lúc đầu mọi người đi tìm nhưng không ra, sau này khi biết rồi thì cứ hai, ba ngày là xuống để đưa “bọn nó” lên một thể”, cụ Tồn hài hước. “Nhưng có một điều lạ là, lâu lâu đòn gánh hay thùng gánh nước… rớt xuống dưới, bọn tui xuống lấy liền nhưng không thấy. Vậy mà vài hôm sau xuống lại thấy sờ sờ trước mặt”, bà cụ thắc mắc.
Mong được giải thích rõ ràng
Tuy không cần thiết lắm nhưng gia đình ông Dự rất mong có người đến để nghiên cứu và giải thích những điều lạ lùng đối với cái giếng này. Còn hiện tại, ông Dự chỉ biết dựa vào tâm linh để giải thích những điều đó. Theo ông Dự, có một truyền thuyết, theo đó thì cái giếng này được đào cùng với một đường hầm để đưa nhà sư đến tu hành ở chùa Hang. Đó là lý do vì sao mà cái bồn giếng lại rộng theo hướng tây (hướng đến chùa Hang), và hơn nữa, hiện gia đình ông cũng đang giữ những giấy tờ liên quan đến chùa Hang và trông coi ngôi chùa này.
Theo Lý Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
< Thoạt nhìn thì giếng “lạ” cũng như bao cái giếng bình thường.
Về Lý Sơn vào một ngày cuối tháng 11, chúng tôi được thượng sĩ Lê Văn Phú, đang công tác tại Công an huyện Lý Sơn, kể cho nghe về những điều mà người dân ở thôn Đông, xã An Hải xầm xì về một cái giếng cổ và có nhiều chuyện lạ.
Những lời xầm xì về giếng “lạ” lúc họp thôn
Anh Phú cho biết, anh làm bên trinh sát và có nhiệm vụ nằm vùng để bám sát địa bàn xã An Hải. Với tính chất công việc đặc thù như thế nên hầu như ngày nào anh cũng “ăn nằm” ở đấy. Tất nhiên, những sự việc xảy ra hằng ngày trên địa phương này anh đều nắm rõ. Trong một lần được mời đi dự cuộc họp của bà con thôn Đông, anh có nghe mọi người truyền tai nhau câu chuyện về một cái giếng rất “lạ”. “Không riêng gì mình mà nhiều người cũng tỏ ra rất ngạc nhiên khi biết nơi mình đang sinh sống có cái giếng như thế”, anh Phú bộc bạch.
< Thượng sĩ Lê Văn Phú đang quan sát cái giếng.
Lúc này, cuộc điện thoại gọi có chuyện đột xuất nên anh Phú chỉ kịp “khoanh vùng” cho chúng tôi về nơi những lời đồn thổi đó rồi nhanh chóng lao vào công việc của mình. Theo sự chỉ dẫn của anh, chúng tôi đã tìm về khu dân cư số 3, thôn Đông, xã An Hải - nơi được xem “điểm nóng” của câu chuyện giếng “lạ”. Tuy nhiên, khung cảnh ở đây lúc này có vẻ vắng lặng. Sau một chút hỏi thăm thì mới biết do ở đây đa phần người dân đều làm nông nên đã lên rẫy làm đất để chuẩn bị cho vụ tỏi sắp tới.
Khi nghe chúng tôi đề cập đến giếng “lạ” thì chị Hà, bán tạp hóa, lấy khẩu trang ra và nói: “Tui cũng chỉ mới nghe à. Hai anh chạy tới chỗ cắt tóc kia kìa (chị Hà chỉ tay theo), ở đó có mấy ông già hôm họp thôn chắc là biết chuyện này đấy”.
Đúng như lời chị Hà, tiệm cắt tóc lúc này tuy không có khách nhưng có hai người đàn ông cao tuổi đang ngồi đánh cờ tướng. Thấy chúng tôi đi vào, một chàng thanh niên có vẻ là chủ tiệm chạy ra mời vào. Khi biết chúng tôi đến không phải để cắt tóc mà vì câu chuyện về giếng “lạ” thì anh ta không những không phật ý mà còn đon đả: “Thì hai anh cứ vào, vừa xem hai ổng đánh cờ vừa nghe kể về cái giếng đó”.
Một ông tên là Phan Thanh Tâm, 61 tuổi, cho biết: “Đó là đợt họp thôn hôm giữa năm. Sau khi mọi việc đã sắp xếp đâu vào đấy thì lúc bấy giờ mọi người mới thư thả nói mấy chuyện linh tinh. Lúc cao hứng, ông Dự có nói cho mọi người nghe về cái giếng ở nhà ổng. Thật ra cái giếng này bọn tui cũng biết, nhưng do lo làm ăn, vả lại cũng lâu quá rồi không thấy ai nhắc nên cũng quên bén đi. Có hôm đó ổng nói thì chúng tui mới nhớ chứ không thì cũng chẳng ai nhớ làm gì cho mệt”.
< Ông Dự bên giếng “lạ”.
Ngừng lại một chút để suy tính nước đi của quân cờ, ông Tâm tiếp tục: “Hồi còn nhỏ, tụi tui hay đến nhà ổng để chơi lắm. Lúc đó cái giếng chưa có bờ thành nên nhiều khi bọn tui lại “lọt” xuống dưới đó. Thấy xung quanh rộng nên cũng mò vô xem thử, tuy nhiên chỉ vô được một chút là bọn tui không đứa nào dám vô nữa vì sợ. Nghe đâu nó chứa được cũng cả trăm người chứ chẳng chơi đâu”.
… Đến nghe chủ nhân kể về giếng “lạ”
Sáng hôm sau, chúng tôi được anh Phú dẫn đường đến nhà ông Trần Dự, 63 tuổi, chủ nhân của giếng “lạ” mà người dân trong vùng gần đây đã có lời đồn thổi. Ông Dự cho biết, cái giếng này có từ thời cố nội của ông, đến nay dễ gì cũng trên dưới 200 năm nên có thể gọi đây là một giếng cổ. Ngay từ lúc ông còn bé, đã thấy đằng sau nhà mình có một cái giếng. Tuy nhiên, khi ấy với bản tính trẻ con nên ông cũng không để ý gì nhiều ngoài việc cái giếng đó là nơi để cung cấp nước sinh hoạt cho cả nhà ông và mấy hộ xung quanh. Một đặc điểm ông thấy khác biệt nhất mà bây giờ so với hồi đó là cái giếng đã được xây bờ thành hẳn hỏi. “Mà nói bây giờ cũng không phải, vì cái thành giếng từ lúc xây xong đến nay cũng được gần 50 năm rồi”, ông Dự cho biết thêm.
Nhằm mục đích đem lại sự “sinh động” cho khách, ông đề nghị dẫn chúng tôi ra sau nhà để vừa xem giếng vừa kể chuyện. Phải công nhận khoảnh đất sau nhà ông rất rộng, chủ nhân đã tận dụng làm vườn mãng cầu. Qua mấy liếp mãng cầu chúng tôi đã thấy được cái giếng “lạ” nằm giữa vườn mãng cầu xanh mơn mởn. Thoạt nhìn bên ngoài nó trông giống như bao cái giếng bình thường khác, cộng thêm một đặc điểm chung thường gặp ở những cái giếng dùng trong gia đình trên đảo Lý Sơn là nó cũng được “trang bị” một mô-tơ bơm nước chạy bằng điện để bơm lên bồn chứa, ngoài ra, nó không có một biểu hiện gì là lạ cả.
< Bên trong giếng “lạ”.
Giếng nước hơi nhỏ, bờ thành giếng cao tầm 0,5m, bán kính giếng khoảng 0,3m. Ông Dự cho biết chiều sâu của cái giếng tính từ đáy lên trên mặt đất chưa tới 5m, xung quanh được xây bằng đá vôi (nay đã phủ màu rêu xanh). Đoạn từ đáy giếng trở lên tầm khoảng 1,5m là đất đá vôi kết lại. Sau khi hướng dẫn chúng tôi đứng về góc không che ánh sáng, ông Dự chỉ tay xuống đáy giếng trong veo và bảo: “Đấy, các chú nhìn kìa, mạch nước của cái giếng này nó phun từ dưới lên chứ không phải chảy ngang”. Nhìn theo hướng chỉ tay của chủ nhân, chúng tôi thấy từ đáy giếng có khoảng ba, bốn “ụn nước” (theo cách nói của ông Dự) được tạo thành và cơ hồ, nếu như đủ mạnh thêm tí nữa thì nó sẽ vượt khỏi mặt nước mà phun thành vòi.
“Cái này chưa phải là lạ đâu, nếu có bấy nhiêu đó thì nhằm nhò gì, và làm sao mà người ta đồn thổi như những lời các chú nghe”, ông Dự nói như biết được thắc mắc trong lòng của chúng tôi. Rồi ông ngồi lên thành giếng, mặt quay về hướng vườn mãng cầu, ông bảo: “Ở dưới đáy giếng nó tạo thành cái bồn rộng lắm, chắc cũng phải hết cái vườn mãn cầu này”. Cũng theo ông, bồn giếng tuy rộng nhưng hơi “khiêm tốn” về chiều cao, ước chừng nó có thể chứa được cả trăm người trưởng thành nhưng phải ở tư thế đứng khom. Thêm một đặc điểm nữa là độ rộng của bồn giếng không đều mà mở rộng theo hướng tây.
Tuy nhiên, theo ông Dự, đó là chuyện của cách đây mấy chục năm còn bây giờ thì bồn giếng hơi bị thu hẹp do bị đất lở lấp lại. Lần ông xuống gần đây nhất cũng gần chục năm, lúc đó ông xuống để đặt lại vòi rồng máy bơm nước, ông định chui vô để xem nhưng thấy đất lở nhiều quá nên sợ. Từ đó đến nay chưa có ai xuống giếng cả. “Hồi đó cái hang để chui vô bồn giếng cao hơn so với mực nước của cái giếng nên bọn tui thường hay leo xuống để chui vô đó chơi… năm mười. Có những lần tui bị ông bà già dọa đánh đòn cũng xuống đó để trốn. Còn bây giờ thì nước giếng lấp luôn miệng hang nên không thể vô được”, ông Dự chia sẻ.
Lúc này thì bà Phạm Thị Tồn, 84 tuổi, mẹ của ông Dự cũng ra “góp vui” cùng chúng tôi: “Hồi cái giếng này chưa xây bờ thành nó thường hay… “nuốt” đồ vật, heo gà lắm”. Hỏi ra mới biết, do không có bờ thành nên những vật nuôi trong nhà thường hay bị rớt xuống giếng. Những con vật này khi rớt xuống lại chui vô bồn giếng và ở luôn trong đấy. “Lúc đầu mọi người đi tìm nhưng không ra, sau này khi biết rồi thì cứ hai, ba ngày là xuống để đưa “bọn nó” lên một thể”, cụ Tồn hài hước. “Nhưng có một điều lạ là, lâu lâu đòn gánh hay thùng gánh nước… rớt xuống dưới, bọn tui xuống lấy liền nhưng không thấy. Vậy mà vài hôm sau xuống lại thấy sờ sờ trước mặt”, bà cụ thắc mắc.
Mong được giải thích rõ ràng
Tuy không cần thiết lắm nhưng gia đình ông Dự rất mong có người đến để nghiên cứu và giải thích những điều lạ lùng đối với cái giếng này. Còn hiện tại, ông Dự chỉ biết dựa vào tâm linh để giải thích những điều đó. Theo ông Dự, có một truyền thuyết, theo đó thì cái giếng này được đào cùng với một đường hầm để đưa nhà sư đến tu hành ở chùa Hang. Đó là lý do vì sao mà cái bồn giếng lại rộng theo hướng tây (hướng đến chùa Hang), và hơn nữa, hiện gia đình ông cũng đang giữ những giấy tờ liên quan đến chùa Hang và trông coi ngôi chùa này.
Theo Lý Sơn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013
Rừng Cồn Lu - Cồn Ngạn
Đây là khu rừng ngập mặn thuộc huyện Giao Thủy cách thành phố Nam Định 60 km về phía đông nam. Với diện tích 7785 ha và rất nhiều loại động thực vật quý, bạn sẽ thực sự bị cuốn hút khi đặt chân đến nơi này.
< Xem chim ở Cồn Lu.
Cồn Lu là bãi bồi nằm ngập mặn ở bên ngoài cồn Ngạn, có hình dạng một bàn tay người, thuộc xã Giao Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Cồn Ngạn là bãi bồi ngập mặn thuộc xã Giao Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Cả hai cồn ngày nay nằm trong khu vực Vườn quốc gia Xuân Thuỷ.
Vườn quốc gia Xuân Thuỷ nằm trên địa bàn cồn Lu, cồn Ngạn và cồn Xanh, thuộc xã Giao Thiện. Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có diện tích 7.100 ha. Bao gồm 3.100 ha đất nổi có rừng và 4.000 ha đất rừng ngập nước. Vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có diện tích 8.000 ha, bao gồm phần diện tích còn lại của Cồn Ngạn (ranh giới tính từ phía trong đê biển đến lạch sông Vọp), diện tích của Bãi Trong và diện tích của 5 xã: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải, huyện Giao Thuỷ.
Điều đặc biệt khác với các khu rừng ngập mặn ở nước ta là Cồn Lu - Cồn Ngạn từ nhiều đời nay đã là điểm dừng chân của rất nhiều loài chim di trú từ phương bắc. Hàng năm cứ vào tháng 11 đến tháng 12 âm lịch, từng đàn chim, đông hàng vạn con từ Xibêri, Hàn Quốc, Trung Quốc di cư tránh rét đến dừng chân tại đây, tích lũy năng lượng, đẻ trứng rồi lại bay đi.
Theo đánh giá của các nhà khoa học thì ở đây có tới 181 loài chim về cư trú, trong đó có những loài được ghi vào sách đỏ như cò thìa, bồ nông, mòng biển.
Vào những ngày chim về cư trú, nếu bơi thuyền hay đi bộ len lỏi trong rừng xú, vẹt, khách có thể ngắm nhìn rất nhiều loài chim lạ nhởn nhơ đi lại, kiếm ăn, những cảnh mà chắc chắn rất nhiều người chỉ được đọc trong sách hoặc xem trên truyền hình.
Năm 1989, UNESCO đã chính thức công nhận khu Cồn Lu - Cồn Ngạn được tham gia Công ước RAMSAR về bảo tồn tự nhiên. Bạn có thể đăng ký tour du lịch cuối tuần 2 ngày 1 đêm Hà Nội - Nam Định - Cồn Lu - Cồn Ngạn - biển Quất Lâm do Công ty Du lịch và Xuất nhập khẩu Nam Định (151 Nguyễn Du, TP.Nam Định. ĐT: 0350.849297). Theo tour này, ngoài được tham quan rừng chim, bạn còn được đi tắm biển Quất Lâm và thăm làng hoa Vị Khê.
Du lịch, GO!
< Xem chim ở Cồn Lu.
Cồn Lu là bãi bồi nằm ngập mặn ở bên ngoài cồn Ngạn, có hình dạng một bàn tay người, thuộc xã Giao Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Cồn Ngạn là bãi bồi ngập mặn thuộc xã Giao Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Cả hai cồn ngày nay nằm trong khu vực Vườn quốc gia Xuân Thuỷ.
Vườn quốc gia Xuân Thuỷ nằm trên địa bàn cồn Lu, cồn Ngạn và cồn Xanh, thuộc xã Giao Thiện. Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có diện tích 7.100 ha. Bao gồm 3.100 ha đất nổi có rừng và 4.000 ha đất rừng ngập nước. Vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có diện tích 8.000 ha, bao gồm phần diện tích còn lại của Cồn Ngạn (ranh giới tính từ phía trong đê biển đến lạch sông Vọp), diện tích của Bãi Trong và diện tích của 5 xã: Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải, huyện Giao Thuỷ.
Điều đặc biệt khác với các khu rừng ngập mặn ở nước ta là Cồn Lu - Cồn Ngạn từ nhiều đời nay đã là điểm dừng chân của rất nhiều loài chim di trú từ phương bắc. Hàng năm cứ vào tháng 11 đến tháng 12 âm lịch, từng đàn chim, đông hàng vạn con từ Xibêri, Hàn Quốc, Trung Quốc di cư tránh rét đến dừng chân tại đây, tích lũy năng lượng, đẻ trứng rồi lại bay đi.
Theo đánh giá của các nhà khoa học thì ở đây có tới 181 loài chim về cư trú, trong đó có những loài được ghi vào sách đỏ như cò thìa, bồ nông, mòng biển.
Vào những ngày chim về cư trú, nếu bơi thuyền hay đi bộ len lỏi trong rừng xú, vẹt, khách có thể ngắm nhìn rất nhiều loài chim lạ nhởn nhơ đi lại, kiếm ăn, những cảnh mà chắc chắn rất nhiều người chỉ được đọc trong sách hoặc xem trên truyền hình.Năm 1989, UNESCO đã chính thức công nhận khu Cồn Lu - Cồn Ngạn được tham gia Công ước RAMSAR về bảo tồn tự nhiên. Bạn có thể đăng ký tour du lịch cuối tuần 2 ngày 1 đêm Hà Nội - Nam Định - Cồn Lu - Cồn Ngạn - biển Quất Lâm do Công ty Du lịch và Xuất nhập khẩu Nam Định (151 Nguyễn Du, TP.Nam Định. ĐT: 0350.849297). Theo tour này, ngoài được tham quan rừng chim, bạn còn được đi tắm biển Quất Lâm và thăm làng hoa Vị Khê.
Du lịch, GO!
Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013
Sử thi về Hải đội Hoàng Sa
(BAVN) - Từ bao đời nay, ở huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) vẫn lưu truyền câu chuyện lịch sử về các anh hùng dân binh của Hải đội Hoàng Sa thời nhà Nguyễn đã dũng cảm chèo thuyền vượt sóng ra quần đảo Hoàng Sa để thực thi nhiệm vụ cắm mốc chủ quyền và bảo vệ biển đảo của quê hương.
< Hàng vạn du khách trong và ngoài nước về dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn.
Chuyến tàu đưa chúng tôi từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi) ra đảo Lý Sơn vào một ngày cuối tháng Tư đông kín người. Dường như càng gần đến ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn thì những chuyến tàu từ đất liền ra đảo càng đông hơn.
< Đình làng An Vĩnh, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia, nơi thờ tự các âm linh của Hải đội Hoàng Sa.
Bởi theo lệ, hàng năm, cứ đến ngày này, con dân của đảo Lý Sơn dù đang sinh sống ở đâu cũng tìm về để dự ngày lễ tri ân các bậc tiền nhân của mình. Không những thế, ngư dân ở các tỉnh bạn như Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam… cũng nô nức đổ về Lý Sơn dự Lễ vì họ tâm niệm Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cũng như là ngày giỗ chung của nghề đi biển trong vùng.
< Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên đảo Lý Sơn.
Trên chuyến tàu đó, tình cờ chúng tôi đã gặp Phạm Văn Biên, cậu sinh viên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Tp. Hồ Chí Minh và cũng chính là hậu duệ đời thứ 7 dòng họ Phạm nổi tiếng của Hải đội Hoàng Sa ở Lý Sơn. Cũng như bao nhiêu người dân Lý Sơn khác, Biên cũng đang trên đường về quê dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
< Ngôi mộ của Cai đội thuỷ quân Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơn.
Biên kể: “Hồi mới ba, bốn tuổi em đã được bố mẹ đưa đi xem Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tính ra em cũng đã được xem Lễ này khoảng 20 lần. Chuyến này ra đảo em sẽ cùng các anh đi xem Lễ khao lề và tham quan các di tích lịch sử liên quan đến Hải đội Hoàng Sa”.
< Các bản chỉ dụ...
Những ngày ở Lý Sơn, Biên nhiệt tình đưa chúng tôi đi tham quan nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh trên đảo. Đảo Lý Sơn rộng chưa đầy 10 cây số vuông nhưng có tới gần 100 di tích và phần lớn đều gắn liền với Hải đội Hoàng Sa như: Âm linh tự, Khu mộ gió lính Hoàng Sa, Đình làng An Vĩnh, Đình làng An Hải, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết, Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, Búng bà Rí…
< ... thẻ bài và di vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa hiện còn được lưu giữ tại nhiều dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn.
Đặc biệt, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn đã được Nhà nước công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia. Hải đội Hoàng Sa là tên gọi đội tàu hàng hải do chính quyền chúa Nguyễn xứ Đàng Trong lập ra từ hồi đầu thế kỷ 17 để làm nhiệm vụ đi khai thác sản vật, đo đạc hải trình, bảo vệ và cắm mốc chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo nhiều nguồn sử liệu chính thống, Hải đội Hoàng Sa ra đời vào khoảng trước năm Tân Mùi (1631), tức dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (trị vì 1613 - 1635), vị chúa thứ hai của nhà Nguyễn.
Minh chứng rõ ràng nhất cho sự ngưỡng vọng của người dân Lý Sơn đối với các bậc tiền nhân chính là di tích Âm linh tự. Đây là nơi thờ các dân binh của Hải đội Hoàng Sa đã gặp nạn hy sinh trên biển trong khi đang làm nhiệm vụ của triều đình.
< Thổi ốc u báo hiệu khai Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Đối với ngư dân Lý Sơn, trước mỗi chuyến ra khơi họ đều đến đây thắp hương làm lễ. “Ngư dân Lý Sơn đều tin rằng khi ra khơi họ sẽ được Hải đội Hoàng Sa phù hộ, che chở trước sóng to gió lớn. Đối với dân đi biển chúng em, điều này đã trở thành như một thứ tín ngưỡng anh ạ!” - Biên tự hào nói với chúng tôi.
< Các nhà sư làm lễ cầu siêu cho dân binh Hải đội Hoàng Sa.
Chuyên nghiệp như một hướng dẫn viên du lịch, Biên dẫn chúng tôi đến tượng đài Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải và Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải nằm ngay trên trục đường chính của đảo Lý Sơn. Biên giới thiệu cẩn thận từng hiện vật như manh chiếu, tấm thẻ bài, nẹp tre, cuộn mây…
< Lễ chánh tế Hải đội Hoàng Sa.
Đó là những vật dụng các dân binh Hải đội Hoàng Sa xưa thường phải mang theo trong mỗi chuyến ra Hoàng Sa, để nếu lỡ may có bỏ mạng giữa trùng khơi, đồng đội sẽ dùng để bó xác thả trôi xuống biển với ước mong nhờ sóng biển đưa về quê hương bản quán.
Nghe câu chuyện của Biên, Bà Han, chuyên viên khảo sát của một công ty du lịch Hàn Quốc có văn phòng đóng tại Tp. Hồ Chí Minh đến bắt chuyện. Nghe tin ở Lý Sơn có Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa nên bà đã thu xếp ra đây từ mấy hôm trước.
< Nghi thức tung gạo, muối...
Bà Han cho biết, câu chuyện về Hải đội Hoàng Sa và những di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh trên đảo Lý Sơn chính là cơ sở để công ty của bà mở tour du lịch đưa khách từ Hàn Quốc đến thăm đảo Lý Sơn. “Việt Nam và Hàn Quốc đều là quốc gia có biển đảo, vì thế tôi tin rằng du khách của chúng tôi sẽ khám phá được nhiều câu chuyện thú vị về những người anh hùng đi mở biển của đất nước các bạn” – Bà Han chia sẻ.
< ...và hát gọi hồn cho các dân binh Hải đội Hoàng Sa.
Rời Nhà lưu niệm, Biên dẫn chúng tôi đến nhà cụ Võ Hiển Đạt ở xã An Vĩnh, nghệ nhân chuyên làm các thuyền câu để phục vụ cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Gần đến ngày lễ trọng nên nhà cụ Đạt nhộn nhịp khác thường. Đám thanh niên trong xã tụ tập đến xem và học cách cụ Đạt làm thuyền câu. Cụ Đạt giảng giải: “Những chiếc thuyền này chính là mô hình của loại thuyền câu mà 400 trước Hải đội Hoàng Sa đã dùng để vượt sóng ra Hoàng Sa cắm mốc và đo đạc thủy trình”.
Cụ Đạt giới thiệu với chúng tôi người đệ tử chân truyền của mình là anh Phạm Văn Bổn. Anh Bổn theo cụ Đạt học nghề được 5 năm và đã làm được những mô hình thuyền câu theo đúng quy cách của người xưa để lại. Anh tự hào tâm sự: “Tục thả thuyền câu đã có từ hàng trăm năm nay và được xem là nghi thức chính của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Trên thuyền câu còn có cả những hình nhân thế mạng. Các hình nhân này được làm rất có hồn. Do đó, chỉ cần nhìn vào các hình nhân trên thuyền là thấy được cái khí thế oai hùng của cha ông chúng tôi lúc dong thuyền đi mở biển cách đây 400 năm”.
< Cụ Võ Hiển Đạt chuẩn bị mô hình thuyền câu và hình nhân thế mạng cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Chia tay cụ Đạt, chúng tôi đến nhà ông Phạm Thoại Tuyền, người được Biên ví như là một “nhà sử học” của đảo Lý Sơn. Ông Tuyền là hậu huệ đời thứ 5 của Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, người đã hy sinh trên quần đảo Hoàng Sa trong khi thực thi sứ mệnh của triều đình nhà Nguyễn đi cắm mốc chủ quyền và đo đạc thủy trình trên biển.
< Ngư dân Lý Sơn tiến hành nghi lễ thả thuyền câu.
Ngôi nhà ba gian đơn sơ của ông Tuyền treo đầy những bản đồ, hình ảnh và hiện vật về Hải đội Hoàng Sa và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ông kể cho chúng tôi nghe về lịch sử hình thành Hải đội Hoàng Sa và vai trò quan trọng của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa trong đời sống văn hóa, tâm linh của người dân Lý Sơn. Theo lời ông Tuyền, vua Minh Mạng (1791 – 1841) đã từng ra chỉ dụ, trong đó có câu “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu” có nghĩa là “Đối với lãnh hải nước ta thì Hoàng Sa là cực kỳ quan trọng”. Còn người dân Lý Sơn lại có câu ca dao: “Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/Hoàng Sa mây nước bốn bề/Tháng 2 khao lề tế lính Hoàng Sa”. Ông Tuyền tự hào cho biết thêm: “Đối với người dân Lý Sơn chúng tôi Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa như là báu vật. Các anh dự lễ sẽ thấy rõ điều đó”.
Theo chân ông Phạm Thoại Tuyền, chúng tôi đến thắp hương ngôi mộ gió Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật. Giải thích về về sự hình thành các ngôi mộ gió trên đảo, ông Tuyền cho biết, ngày xưa vào khoảng tháng 2, các dân binh Hải đội Hoàng Sa lên đường đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, đến tầm tháng 8 mà không thấy trở về thì gia đình xem như đã hy sinh.
< Nghi lễ thả thuyền câu và hình nhân thế mạng xuống biển là nghi thức quan trọng nhất của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Để có mộ phần làm nơi hương khói, gia đình mời nhà sư lấy đất sét trên đỉnh núi Giếng Tiền, đất ở ngã ba đường, lòng đỏ trứng gà và cành dâu nặn thành hình hài tượng trưng rồi đem chôn. Nhiều thế hệ người dân Lý Sơn đã tham gia Hải đội Hoàng Sa có đi mà không về, nên trên đảo có hàng trăm ngôi mộ gió và hình nhân trên thuyền câu trong Lễ khao lề cũng được làm như thế.
Ngày khai hội Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, khi những hồi ốc u thổi rền vang ngân dài khắp đảo Lý Sơn, từng dòng người từ khắp nơi quy tụ về đình làng An Vĩnh. Ban thờ chính được đặt trang nghiêm trước sân đình và quay ra hướng biển. Các bô lão thuộc lục họ (tức 6 dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn) trang phục chỉnh tề, nghiêm cẩn tiến hành các nghi lễ để tưởng nhớ và tôn vinh Hải đội Hoàng Sa như: lễ cầu siêu, lễ chánh tế, lễ thả thuyền câu thế mạng lính Hoàng Sa...
Theo lời cụ Võ Hiển Đạt, xưa kia các bậc tiền nhân vâng mệnh triều đình đi cắm mốc và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Trùng dương cách trở, nhiều người chỉ đi mà không thấy về. Để tưởng nhớ những người đã nằm xuống, hàng năm, vào khoảng tháng Hai âm lịch, các tộc họ ở Lý Sơn đều tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Vì thế, họ tộc nào có người hy sinh ở Hoàng Sa cũng đều tổ chức Lễ khao lề thế lính. Dần dần, lễ thức này đã trở thành lễ thức chung của người dân Lý Sơn. Khao lề là lễ tế sống các dân binh với mục đích tôn vinh và tri ân những người lính dũng cảm, dám hy sinh thân mình vượt sóng ra Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Buổi tối, dưới ánh đèn vàng của Nhà thờ Chánh suất đội thủy quân Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, Biên đã kể cho chúng tôi nghe những dự định và hoài bão mong muốn được làm một cái gì đó thật ý nghĩa để tri ân công đức các bậc tiền nhân. Biên tâm sự: “Em đã thu nhập được khá nhiều tư liệu, sau này ra trường em mơ ước sẽ làm được một bộ phim tái hiện lại hành trình bi hùng của Hải đội Hoàng Sa trong quá trình đi thực thi chủ quyền biển đảo của mình”.
< Hội đua thuyền tứ linh thể hiện tinh thần thượng võ của ngư dân Lý Sơn trong ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Lời tâm sự đầy nhiệt huyết của chàng trai trẻ và tiếng ốc u rền vang lẫn trong tiếng sóng biển vọng về như đưa tôi quay trở lại với thời quá khứ xa xôi, ở đó có câu chuyện bi tráng mang đậm chất sử thi về những người dân binh miền biển, những người đã hy sinh thân mình nằm lại giữa biển khơi để gìn giữ biển trời thiêng liêng của đất nước.
Xem thêm >
Theo Thông Thiện - Công Đạt (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
< Hàng vạn du khách trong và ngoài nước về dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn.
Chuyến tàu đưa chúng tôi từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi) ra đảo Lý Sơn vào một ngày cuối tháng Tư đông kín người. Dường như càng gần đến ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn thì những chuyến tàu từ đất liền ra đảo càng đông hơn.
< Đình làng An Vĩnh, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia, nơi thờ tự các âm linh của Hải đội Hoàng Sa.
Bởi theo lệ, hàng năm, cứ đến ngày này, con dân của đảo Lý Sơn dù đang sinh sống ở đâu cũng tìm về để dự ngày lễ tri ân các bậc tiền nhân của mình. Không những thế, ngư dân ở các tỉnh bạn như Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam… cũng nô nức đổ về Lý Sơn dự Lễ vì họ tâm niệm Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cũng như là ngày giỗ chung của nghề đi biển trong vùng.
< Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên đảo Lý Sơn.
Trên chuyến tàu đó, tình cờ chúng tôi đã gặp Phạm Văn Biên, cậu sinh viên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Tp. Hồ Chí Minh và cũng chính là hậu duệ đời thứ 7 dòng họ Phạm nổi tiếng của Hải đội Hoàng Sa ở Lý Sơn. Cũng như bao nhiêu người dân Lý Sơn khác, Biên cũng đang trên đường về quê dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
< Ngôi mộ của Cai đội thuỷ quân Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơn.
Biên kể: “Hồi mới ba, bốn tuổi em đã được bố mẹ đưa đi xem Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tính ra em cũng đã được xem Lễ này khoảng 20 lần. Chuyến này ra đảo em sẽ cùng các anh đi xem Lễ khao lề và tham quan các di tích lịch sử liên quan đến Hải đội Hoàng Sa”.
< Các bản chỉ dụ...
Những ngày ở Lý Sơn, Biên nhiệt tình đưa chúng tôi đi tham quan nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh trên đảo. Đảo Lý Sơn rộng chưa đầy 10 cây số vuông nhưng có tới gần 100 di tích và phần lớn đều gắn liền với Hải đội Hoàng Sa như: Âm linh tự, Khu mộ gió lính Hoàng Sa, Đình làng An Vĩnh, Đình làng An Hải, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết, Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, Búng bà Rí…
< ... thẻ bài và di vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa hiện còn được lưu giữ tại nhiều dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn.
Đặc biệt, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn đã được Nhà nước công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia. Hải đội Hoàng Sa là tên gọi đội tàu hàng hải do chính quyền chúa Nguyễn xứ Đàng Trong lập ra từ hồi đầu thế kỷ 17 để làm nhiệm vụ đi khai thác sản vật, đo đạc hải trình, bảo vệ và cắm mốc chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo nhiều nguồn sử liệu chính thống, Hải đội Hoàng Sa ra đời vào khoảng trước năm Tân Mùi (1631), tức dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (trị vì 1613 - 1635), vị chúa thứ hai của nhà Nguyễn.
Minh chứng rõ ràng nhất cho sự ngưỡng vọng của người dân Lý Sơn đối với các bậc tiền nhân chính là di tích Âm linh tự. Đây là nơi thờ các dân binh của Hải đội Hoàng Sa đã gặp nạn hy sinh trên biển trong khi đang làm nhiệm vụ của triều đình.
< Thổi ốc u báo hiệu khai Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Đối với ngư dân Lý Sơn, trước mỗi chuyến ra khơi họ đều đến đây thắp hương làm lễ. “Ngư dân Lý Sơn đều tin rằng khi ra khơi họ sẽ được Hải đội Hoàng Sa phù hộ, che chở trước sóng to gió lớn. Đối với dân đi biển chúng em, điều này đã trở thành như một thứ tín ngưỡng anh ạ!” - Biên tự hào nói với chúng tôi.
< Các nhà sư làm lễ cầu siêu cho dân binh Hải đội Hoàng Sa.
Chuyên nghiệp như một hướng dẫn viên du lịch, Biên dẫn chúng tôi đến tượng đài Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải và Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải nằm ngay trên trục đường chính của đảo Lý Sơn. Biên giới thiệu cẩn thận từng hiện vật như manh chiếu, tấm thẻ bài, nẹp tre, cuộn mây…
< Lễ chánh tế Hải đội Hoàng Sa.
Đó là những vật dụng các dân binh Hải đội Hoàng Sa xưa thường phải mang theo trong mỗi chuyến ra Hoàng Sa, để nếu lỡ may có bỏ mạng giữa trùng khơi, đồng đội sẽ dùng để bó xác thả trôi xuống biển với ước mong nhờ sóng biển đưa về quê hương bản quán.
Nghe câu chuyện của Biên, Bà Han, chuyên viên khảo sát của một công ty du lịch Hàn Quốc có văn phòng đóng tại Tp. Hồ Chí Minh đến bắt chuyện. Nghe tin ở Lý Sơn có Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa nên bà đã thu xếp ra đây từ mấy hôm trước.
< Nghi thức tung gạo, muối...
Bà Han cho biết, câu chuyện về Hải đội Hoàng Sa và những di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh trên đảo Lý Sơn chính là cơ sở để công ty của bà mở tour du lịch đưa khách từ Hàn Quốc đến thăm đảo Lý Sơn. “Việt Nam và Hàn Quốc đều là quốc gia có biển đảo, vì thế tôi tin rằng du khách của chúng tôi sẽ khám phá được nhiều câu chuyện thú vị về những người anh hùng đi mở biển của đất nước các bạn” – Bà Han chia sẻ.
< ...và hát gọi hồn cho các dân binh Hải đội Hoàng Sa.
Rời Nhà lưu niệm, Biên dẫn chúng tôi đến nhà cụ Võ Hiển Đạt ở xã An Vĩnh, nghệ nhân chuyên làm các thuyền câu để phục vụ cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Gần đến ngày lễ trọng nên nhà cụ Đạt nhộn nhịp khác thường. Đám thanh niên trong xã tụ tập đến xem và học cách cụ Đạt làm thuyền câu. Cụ Đạt giảng giải: “Những chiếc thuyền này chính là mô hình của loại thuyền câu mà 400 trước Hải đội Hoàng Sa đã dùng để vượt sóng ra Hoàng Sa cắm mốc và đo đạc thủy trình”.
Cụ Đạt giới thiệu với chúng tôi người đệ tử chân truyền của mình là anh Phạm Văn Bổn. Anh Bổn theo cụ Đạt học nghề được 5 năm và đã làm được những mô hình thuyền câu theo đúng quy cách của người xưa để lại. Anh tự hào tâm sự: “Tục thả thuyền câu đã có từ hàng trăm năm nay và được xem là nghi thức chính của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Trên thuyền câu còn có cả những hình nhân thế mạng. Các hình nhân này được làm rất có hồn. Do đó, chỉ cần nhìn vào các hình nhân trên thuyền là thấy được cái khí thế oai hùng của cha ông chúng tôi lúc dong thuyền đi mở biển cách đây 400 năm”.
< Cụ Võ Hiển Đạt chuẩn bị mô hình thuyền câu và hình nhân thế mạng cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Chia tay cụ Đạt, chúng tôi đến nhà ông Phạm Thoại Tuyền, người được Biên ví như là một “nhà sử học” của đảo Lý Sơn. Ông Tuyền là hậu huệ đời thứ 5 của Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, người đã hy sinh trên quần đảo Hoàng Sa trong khi thực thi sứ mệnh của triều đình nhà Nguyễn đi cắm mốc chủ quyền và đo đạc thủy trình trên biển.
< Ngư dân Lý Sơn tiến hành nghi lễ thả thuyền câu.
Ngôi nhà ba gian đơn sơ của ông Tuyền treo đầy những bản đồ, hình ảnh và hiện vật về Hải đội Hoàng Sa và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ông kể cho chúng tôi nghe về lịch sử hình thành Hải đội Hoàng Sa và vai trò quan trọng của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa trong đời sống văn hóa, tâm linh của người dân Lý Sơn. Theo lời ông Tuyền, vua Minh Mạng (1791 – 1841) đã từng ra chỉ dụ, trong đó có câu “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu” có nghĩa là “Đối với lãnh hải nước ta thì Hoàng Sa là cực kỳ quan trọng”. Còn người dân Lý Sơn lại có câu ca dao: “Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/Hoàng Sa mây nước bốn bề/Tháng 2 khao lề tế lính Hoàng Sa”. Ông Tuyền tự hào cho biết thêm: “Đối với người dân Lý Sơn chúng tôi Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa như là báu vật. Các anh dự lễ sẽ thấy rõ điều đó”.
Theo chân ông Phạm Thoại Tuyền, chúng tôi đến thắp hương ngôi mộ gió Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật. Giải thích về về sự hình thành các ngôi mộ gió trên đảo, ông Tuyền cho biết, ngày xưa vào khoảng tháng 2, các dân binh Hải đội Hoàng Sa lên đường đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, đến tầm tháng 8 mà không thấy trở về thì gia đình xem như đã hy sinh.
< Nghi lễ thả thuyền câu và hình nhân thế mạng xuống biển là nghi thức quan trọng nhất của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Để có mộ phần làm nơi hương khói, gia đình mời nhà sư lấy đất sét trên đỉnh núi Giếng Tiền, đất ở ngã ba đường, lòng đỏ trứng gà và cành dâu nặn thành hình hài tượng trưng rồi đem chôn. Nhiều thế hệ người dân Lý Sơn đã tham gia Hải đội Hoàng Sa có đi mà không về, nên trên đảo có hàng trăm ngôi mộ gió và hình nhân trên thuyền câu trong Lễ khao lề cũng được làm như thế.
Ngày khai hội Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, khi những hồi ốc u thổi rền vang ngân dài khắp đảo Lý Sơn, từng dòng người từ khắp nơi quy tụ về đình làng An Vĩnh. Ban thờ chính được đặt trang nghiêm trước sân đình và quay ra hướng biển. Các bô lão thuộc lục họ (tức 6 dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn) trang phục chỉnh tề, nghiêm cẩn tiến hành các nghi lễ để tưởng nhớ và tôn vinh Hải đội Hoàng Sa như: lễ cầu siêu, lễ chánh tế, lễ thả thuyền câu thế mạng lính Hoàng Sa...
Theo lời cụ Võ Hiển Đạt, xưa kia các bậc tiền nhân vâng mệnh triều đình đi cắm mốc và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Trùng dương cách trở, nhiều người chỉ đi mà không thấy về. Để tưởng nhớ những người đã nằm xuống, hàng năm, vào khoảng tháng Hai âm lịch, các tộc họ ở Lý Sơn đều tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Vì thế, họ tộc nào có người hy sinh ở Hoàng Sa cũng đều tổ chức Lễ khao lề thế lính. Dần dần, lễ thức này đã trở thành lễ thức chung của người dân Lý Sơn. Khao lề là lễ tế sống các dân binh với mục đích tôn vinh và tri ân những người lính dũng cảm, dám hy sinh thân mình vượt sóng ra Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Buổi tối, dưới ánh đèn vàng của Nhà thờ Chánh suất đội thủy quân Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, Biên đã kể cho chúng tôi nghe những dự định và hoài bão mong muốn được làm một cái gì đó thật ý nghĩa để tri ân công đức các bậc tiền nhân. Biên tâm sự: “Em đã thu nhập được khá nhiều tư liệu, sau này ra trường em mơ ước sẽ làm được một bộ phim tái hiện lại hành trình bi hùng của Hải đội Hoàng Sa trong quá trình đi thực thi chủ quyền biển đảo của mình”.
< Hội đua thuyền tứ linh thể hiện tinh thần thượng võ của ngư dân Lý Sơn trong ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Lời tâm sự đầy nhiệt huyết của chàng trai trẻ và tiếng ốc u rền vang lẫn trong tiếng sóng biển vọng về như đưa tôi quay trở lại với thời quá khứ xa xôi, ở đó có câu chuyện bi tráng mang đậm chất sử thi về những người dân binh miền biển, những người đã hy sinh thân mình nằm lại giữa biển khơi để gìn giữ biển trời thiêng liêng của đất nước.
Xem thêm >
Theo Thông Thiện - Công Đạt (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013
Những ốc đảo trên sông Hương
(NLĐ) - Những ốc đảo trên sông Hương từ lâu đã làm nên những điểm nhấn tuyệt vời trong kiến trúc hài hòa của Huế. Có điều, ít ai có thể ngờ rằng trên sông Hương không chỉ có hai hòn đảo Dã Viên- Cồn Hến từng mệnh danh là “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”, mà có đến 5 ốc đảo xuôi dòng nước xanh, chứa đựng trong nó biết bao dấu tích rêu phong của cố đô Huế và bao số phận con người...
“Dữ dã viên ký” và cồn Hến
Về địa lý phong thủy, cồn Dã Viên cũng như cồn Hến đã đóng vai trò tâm linh trong kiến trúc cố đô, các nhà quy hoạch kiến trúc đầu thế kỷ thứ 19 đã siêu nhiên hóa và hình tượng hóa chúng thành con rồng và con cọp ở trong thế rồng chầu hổ phục để bảo vệ vương quyền.
Không hiểu vì đâu mà người Huế gọi “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” là hai cái cồn, song lại gọi những cồn khác cũng trên con sông này là đảo Cũng không biết cồn Dã Viên hình thành từ bao giờ, chỉ biết nó được nhắc đến nhiều trong các văn tự thời Nguyễn và ngày 5-1-1750 đã từng có trận đấu giữa voi và cọp do chúa Nguyễn tổ chức.
Hôm đó 40 con voi đã quật chết hết 18 con cọp. Một trong những tư liệu quan trọng khác gắn với Dã Viên là bài “Dữ dã viên ký” do vua Tự Đức viết sau khi vườn ngự trên cồn này xây dựng xong. Trong đó có nói rằng khởi thủy của cồn này có bảy ngôi nhà dân ở, nhỏ hẹp và xiêu vẹo. Lầu ngự của vua nghe nói tồn tại đến năm 1900, còn từ 1925 thì bỏ mặc cho mưa nắng. Ngày nay, trên đảo cũng chỉ có 8 hộ dân sinh sống. Các di tích xưa đều đã biến mất, chỉ có tháp nước Dã Viên cung cấp nước cho dân thành phố là còn đứng sững giữa sông xanh.
Xuôi về phía dưới không xa, cồn Hến lớn hơn nhiều so với Dã Viên, cũng chia sông Hương ra làm hai nhánh. Nhánh phía Đông là ranh giới giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, nhánh phía Tây là ranh giới giữa cồn Hến và phường Phú Cát. Ngày xưa, hai khe nước giữa cồn phù sa lấp cạn, tôm cá rất nhiều, đêm đêm người đến đây soi, đơm bắt, đèn đuốc sáng cả góc trời nên người ta còn gọi là “xứ cồn cạn”. Phường Giang Hến ra đời trên đất “xứ cồn cạn” lại không theo nghề tôm cá mà lại làm nghề cào hến dọc sông Hương. Bởi nghề này mà cồn Hến trở thành cái nôi của món cơm không nơi nào có được là cơm hến Huế.
Từ một ốc đảo nhỏ thuở xưa, nay cồn Hến đã là một vùng đất đai cao ráo với diện tích gần 33 ha, gồm 5 tổ của khu vực 6, phường Vĩ Dạ. Ở đó dân cư đông đúc, có trường học, đền chùa. Từ sau khi bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử được truyền tụng, với câu: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”, cồn Hến ngoài nổi tiếng cơm hến, còn nổi tiếng món chè bắp với tên gọi “chè bắp xứ cồn” thơm và rất chi thanh ngọt. Kể từ sau khi đất nước mở cửa, kinh tế thị trường tràn ra đảo thì cồn Hến ngoài nơi cào hến và trồng bắp ra, còn là “đảo ẩm thực”. Du khách ra đảo này có thể vừa soi mặt mình xuống sông Hương vừa ăn cơm hến, chè bắp...
Bởi vậy năm 1997, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế dự định mở khu du lịch ở ốc đảo này nhưng chưa thực hiện được do không có vốn. Người cồn Hến mấy năm trở lại đây thất bát vì nghề cào hến không còn cho thu nhập như xưa. Do đánh bắt ráo riết với các dụng cụ không hợp lý, hến trên sông Hương đang ít dần. Một người đàn ông Giang Hến tên là Trai đã khóc trong bóng chiều, nói rằng thật đáng buồn khi một vài năm lại đây hến ở cồn Hến không còn là hến sông Hương nữa, mà người ta đi mua hến từ xứ khác về thay vào. Bây giờ con hến sông Hương đã bỏ đi, biết bao giờ nó sẽ quay về...
Cụm đảo bên cạnh cồn Hến
Phía trên cồn Hến, ngang qua phường Phú Cát có cụm đảo 5 cồn nổi nhỏ, người Huế gọi đó là “Đảo ông Sắt”. Tên gọi này xuất phát từ việc ông Võ Sắt là người dân vạn đò thường xuyên kè chắn, lập miếu thờ Thiên Y A na và lo hương đèn trên đảo rồi sau đó trở thành người vạn đò đầu tiên ở khu vực này lên đảo làm nhà ở. Bây giờ trên đảo này còn có một lớp học tình thương với khoảng 50 chỗ ngồi do UBND phường Vĩ Dạ xây dựng.
Có một người thầy đã nhiều năm, dù mưa hay nắng, ngày nào cũng đi ghe ra đảo để dạy những đứa trẻ rất mê học chữ ở đây. Học tập ông Sắt, ông Võ Mốc cũng kè chắn những hòn đảo nhỏ xung quanh, dựng miếu thờ Thiên Y A na và đàn Âm hồn. Năm cụm đảo này bây giờ là đất lành cho 400 thuyền thuộc tổ 21, 22 khu vực 7, phường Vĩ Dạ neo đậu, sinh sống. Các hộ đò ở đây giờ đã biết hình thành các quỹ tiết kiệm, chẳng hạn mỗi đò một ngày đóng 200 đồng, đến cuối năm “đổ ống” ra mổ heo ăn Tết. Cũng có một số chương trình xã hội do thanh niên Huế thực hiện ở đây, đưa được một số thanh niên trên đảo vào đất liền học các nghề may, điện lạnh... Đảo đang ngày càng gắn với đất liền.
Hai ốc đảo khác
Đứng ở Đập Đá nhìn về hướng Đông Nam, cách không xa (khoảng 600 m) có một hòn đảo nhỏ là đảo Bảo An Định. Đảo này nằm giữa dòng sông Như Ý, một nhánh của sông Hương mà cả khởi đầu và kết thúc đều ở sông Hương. Khởi thủy, đảo chỉ là một mô đất cạn giữa dòng, ông Võ Văn Đồng, làm nghề sông nước đã nhọc công lặn đá chắn kè khiến đảo ngày một lớn. Lúc rộng nhất của đảo là 150 m2, ông Đồng đưa cả gia đình ra đảo sống. Năm 1967, ông Đồng xin chính quyền hồi ấy lập miếu thờ thần rắn trên đảo và được chấp nhận.
Hiện, con trai ông Đồng là Võ Văn Thư đã xây một ngôi nhà trên đảo. Tuy nhiên, sống ở trên đảo vào mùa lũ là rất nguy hiểm. Năm 1999, lũ đã cuốn trôi 4 mạng người trên đảo Bảo An Định cùng với 50% diện tích đảo (đảo giờ chỉ còn 80 m2). UBND TP Huế đã quyết định cấp tốc giải tỏa các hộ ở trên đảo này và đã cấp đất cho gia đình ông Đồng, ông Thư ở phường Vĩ Dạ. Dù đã nhận đất, dựng nhà, con cháu đã đến ở, ông Thư vẫn cứ sống và làm ăn trên đảo.
Xuôi dọc sông Như Ý, về đến ngã ba sông Vân Dương có một hòn đảo nhỏ gọi là đảo Phao Võng. Vào thời Gia Long, ông Nguyễn Hữu làm nghề sông nước ở thôn Phao Võng, xã Hiền Vinh (Phú Lộc) cùng 5 gia đình khác chuyển lên vùng đất nổi ở ngã ba sông này làm nơi neo đậu, sinh sống bằng nghề chài lưới, lập nên thôn mới gọi tên là Phao Võng (để nhớ thôn cũ). Hòn đảo nhỏ giữa ngã ba sông này cũng mang tên Phao Võng từ đó. Lâu ngày, đảo hẹp dần, hậu sinh của họ Nguyễn lên cạn làm ăn sinh sống, chỉ còn lại một hòn đảo nhỏ với cây mân trên trăm tuổi và một am thờ Thiên Y A na khá lâu đời.
Lãng mạn cùng ốc đảo
Trên những ốc đảo đó, người ta thờ thần Thiên Y A na, thần rắn cầu mong mưa thuận gió hòa, thuận thuyền xuôi chèo để làm ăn, đánh bắt tôm cá... Lâu ngày, người trên cạn cũng ra đảo thờ cúng các lễ như: cúng bạc vớt, cúng xai-phan (cầu hồn), lễ thành, đám chay... Bởi vậy, những ốc đảo nói trên ngoài việc tạo vẻ mỹ quan độc đáo cho sông Hương, còn là những vùng đất tâm linh trên sông nước.
Năm 1995, giữa lúc các đảo, cồn trên sông Hương mai một dần, có một người chợt nhớ ra là kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn. Bấy giờ, với tư cách là chủ nhiệm đồ án “Quy hoạch tôn tạo cảnh quan hai bờ sông Hương”, ông Huấn đề nghị đưa cồn Dã Viên vào khai thác văn hóa du lịch. Trong đó, có đề xuất chuyển tuyến đường sắt qua Dã Viên sang hướng khác, giải tỏa tháp nước Dã Viên trên cồn... hình thành một hoa viên trên sông Hương, tháp nước cao 35 m sẽ cải tạo thành một khu vui chơi, giải trí, nhà hàng trên cao...
Rất tiếc là những ý tưởng ấy giờ vẫn còn nằm trên giấy. Nhưng rõ ràng trong mắt nhiều nhà du lịch, rất có thể thiết kế một tour du lịch bằng thuyền đến các đảo trên sông Hương. Có thể tận mắt nhìn thấy những phế tích về một lầu đài xưa kia cực kỳ hoa lệ trên Dã Viên, những con người trên các đảo, những làng nghề sông nước ở cồn Hến và tất nhiên, thưởng thức tại đây những món ăn hải sản tươi sống vừa đánh bắt từ sông Hương lên, hay cũng chỉ cần ăn cơm hến, chè bắp xứ cồn là đủ... Nếu may mắn hơn, có thể dự một buổi lễ cúng tâm linh miền sông nước. Đó không phải là những cái thú sao
Theo Hương Cẩn (báo Người Lao Động), ảnh internet
Du lịch, GO!
“Dữ dã viên ký” và cồn Hến
Về địa lý phong thủy, cồn Dã Viên cũng như cồn Hến đã đóng vai trò tâm linh trong kiến trúc cố đô, các nhà quy hoạch kiến trúc đầu thế kỷ thứ 19 đã siêu nhiên hóa và hình tượng hóa chúng thành con rồng và con cọp ở trong thế rồng chầu hổ phục để bảo vệ vương quyền.
Không hiểu vì đâu mà người Huế gọi “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” là hai cái cồn, song lại gọi những cồn khác cũng trên con sông này là đảo Cũng không biết cồn Dã Viên hình thành từ bao giờ, chỉ biết nó được nhắc đến nhiều trong các văn tự thời Nguyễn và ngày 5-1-1750 đã từng có trận đấu giữa voi và cọp do chúa Nguyễn tổ chức.
Hôm đó 40 con voi đã quật chết hết 18 con cọp. Một trong những tư liệu quan trọng khác gắn với Dã Viên là bài “Dữ dã viên ký” do vua Tự Đức viết sau khi vườn ngự trên cồn này xây dựng xong. Trong đó có nói rằng khởi thủy của cồn này có bảy ngôi nhà dân ở, nhỏ hẹp và xiêu vẹo. Lầu ngự của vua nghe nói tồn tại đến năm 1900, còn từ 1925 thì bỏ mặc cho mưa nắng. Ngày nay, trên đảo cũng chỉ có 8 hộ dân sinh sống. Các di tích xưa đều đã biến mất, chỉ có tháp nước Dã Viên cung cấp nước cho dân thành phố là còn đứng sững giữa sông xanh.
Xuôi về phía dưới không xa, cồn Hến lớn hơn nhiều so với Dã Viên, cũng chia sông Hương ra làm hai nhánh. Nhánh phía Đông là ranh giới giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, nhánh phía Tây là ranh giới giữa cồn Hến và phường Phú Cát. Ngày xưa, hai khe nước giữa cồn phù sa lấp cạn, tôm cá rất nhiều, đêm đêm người đến đây soi, đơm bắt, đèn đuốc sáng cả góc trời nên người ta còn gọi là “xứ cồn cạn”. Phường Giang Hến ra đời trên đất “xứ cồn cạn” lại không theo nghề tôm cá mà lại làm nghề cào hến dọc sông Hương. Bởi nghề này mà cồn Hến trở thành cái nôi của món cơm không nơi nào có được là cơm hến Huế.
Từ một ốc đảo nhỏ thuở xưa, nay cồn Hến đã là một vùng đất đai cao ráo với diện tích gần 33 ha, gồm 5 tổ của khu vực 6, phường Vĩ Dạ. Ở đó dân cư đông đúc, có trường học, đền chùa. Từ sau khi bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử được truyền tụng, với câu: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”, cồn Hến ngoài nổi tiếng cơm hến, còn nổi tiếng món chè bắp với tên gọi “chè bắp xứ cồn” thơm và rất chi thanh ngọt. Kể từ sau khi đất nước mở cửa, kinh tế thị trường tràn ra đảo thì cồn Hến ngoài nơi cào hến và trồng bắp ra, còn là “đảo ẩm thực”. Du khách ra đảo này có thể vừa soi mặt mình xuống sông Hương vừa ăn cơm hến, chè bắp...
Bởi vậy năm 1997, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế dự định mở khu du lịch ở ốc đảo này nhưng chưa thực hiện được do không có vốn. Người cồn Hến mấy năm trở lại đây thất bát vì nghề cào hến không còn cho thu nhập như xưa. Do đánh bắt ráo riết với các dụng cụ không hợp lý, hến trên sông Hương đang ít dần. Một người đàn ông Giang Hến tên là Trai đã khóc trong bóng chiều, nói rằng thật đáng buồn khi một vài năm lại đây hến ở cồn Hến không còn là hến sông Hương nữa, mà người ta đi mua hến từ xứ khác về thay vào. Bây giờ con hến sông Hương đã bỏ đi, biết bao giờ nó sẽ quay về...
Cụm đảo bên cạnh cồn Hến
Phía trên cồn Hến, ngang qua phường Phú Cát có cụm đảo 5 cồn nổi nhỏ, người Huế gọi đó là “Đảo ông Sắt”. Tên gọi này xuất phát từ việc ông Võ Sắt là người dân vạn đò thường xuyên kè chắn, lập miếu thờ Thiên Y A na và lo hương đèn trên đảo rồi sau đó trở thành người vạn đò đầu tiên ở khu vực này lên đảo làm nhà ở. Bây giờ trên đảo này còn có một lớp học tình thương với khoảng 50 chỗ ngồi do UBND phường Vĩ Dạ xây dựng.
Có một người thầy đã nhiều năm, dù mưa hay nắng, ngày nào cũng đi ghe ra đảo để dạy những đứa trẻ rất mê học chữ ở đây. Học tập ông Sắt, ông Võ Mốc cũng kè chắn những hòn đảo nhỏ xung quanh, dựng miếu thờ Thiên Y A na và đàn Âm hồn. Năm cụm đảo này bây giờ là đất lành cho 400 thuyền thuộc tổ 21, 22 khu vực 7, phường Vĩ Dạ neo đậu, sinh sống. Các hộ đò ở đây giờ đã biết hình thành các quỹ tiết kiệm, chẳng hạn mỗi đò một ngày đóng 200 đồng, đến cuối năm “đổ ống” ra mổ heo ăn Tết. Cũng có một số chương trình xã hội do thanh niên Huế thực hiện ở đây, đưa được một số thanh niên trên đảo vào đất liền học các nghề may, điện lạnh... Đảo đang ngày càng gắn với đất liền.
Hai ốc đảo khác
Đứng ở Đập Đá nhìn về hướng Đông Nam, cách không xa (khoảng 600 m) có một hòn đảo nhỏ là đảo Bảo An Định. Đảo này nằm giữa dòng sông Như Ý, một nhánh của sông Hương mà cả khởi đầu và kết thúc đều ở sông Hương. Khởi thủy, đảo chỉ là một mô đất cạn giữa dòng, ông Võ Văn Đồng, làm nghề sông nước đã nhọc công lặn đá chắn kè khiến đảo ngày một lớn. Lúc rộng nhất của đảo là 150 m2, ông Đồng đưa cả gia đình ra đảo sống. Năm 1967, ông Đồng xin chính quyền hồi ấy lập miếu thờ thần rắn trên đảo và được chấp nhận.
Hiện, con trai ông Đồng là Võ Văn Thư đã xây một ngôi nhà trên đảo. Tuy nhiên, sống ở trên đảo vào mùa lũ là rất nguy hiểm. Năm 1999, lũ đã cuốn trôi 4 mạng người trên đảo Bảo An Định cùng với 50% diện tích đảo (đảo giờ chỉ còn 80 m2). UBND TP Huế đã quyết định cấp tốc giải tỏa các hộ ở trên đảo này và đã cấp đất cho gia đình ông Đồng, ông Thư ở phường Vĩ Dạ. Dù đã nhận đất, dựng nhà, con cháu đã đến ở, ông Thư vẫn cứ sống và làm ăn trên đảo.
Xuôi dọc sông Như Ý, về đến ngã ba sông Vân Dương có một hòn đảo nhỏ gọi là đảo Phao Võng. Vào thời Gia Long, ông Nguyễn Hữu làm nghề sông nước ở thôn Phao Võng, xã Hiền Vinh (Phú Lộc) cùng 5 gia đình khác chuyển lên vùng đất nổi ở ngã ba sông này làm nơi neo đậu, sinh sống bằng nghề chài lưới, lập nên thôn mới gọi tên là Phao Võng (để nhớ thôn cũ). Hòn đảo nhỏ giữa ngã ba sông này cũng mang tên Phao Võng từ đó. Lâu ngày, đảo hẹp dần, hậu sinh của họ Nguyễn lên cạn làm ăn sinh sống, chỉ còn lại một hòn đảo nhỏ với cây mân trên trăm tuổi và một am thờ Thiên Y A na khá lâu đời.
Lãng mạn cùng ốc đảo
Trên những ốc đảo đó, người ta thờ thần Thiên Y A na, thần rắn cầu mong mưa thuận gió hòa, thuận thuyền xuôi chèo để làm ăn, đánh bắt tôm cá... Lâu ngày, người trên cạn cũng ra đảo thờ cúng các lễ như: cúng bạc vớt, cúng xai-phan (cầu hồn), lễ thành, đám chay... Bởi vậy, những ốc đảo nói trên ngoài việc tạo vẻ mỹ quan độc đáo cho sông Hương, còn là những vùng đất tâm linh trên sông nước.
Năm 1995, giữa lúc các đảo, cồn trên sông Hương mai một dần, có một người chợt nhớ ra là kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn. Bấy giờ, với tư cách là chủ nhiệm đồ án “Quy hoạch tôn tạo cảnh quan hai bờ sông Hương”, ông Huấn đề nghị đưa cồn Dã Viên vào khai thác văn hóa du lịch. Trong đó, có đề xuất chuyển tuyến đường sắt qua Dã Viên sang hướng khác, giải tỏa tháp nước Dã Viên trên cồn... hình thành một hoa viên trên sông Hương, tháp nước cao 35 m sẽ cải tạo thành một khu vui chơi, giải trí, nhà hàng trên cao...Rất tiếc là những ý tưởng ấy giờ vẫn còn nằm trên giấy. Nhưng rõ ràng trong mắt nhiều nhà du lịch, rất có thể thiết kế một tour du lịch bằng thuyền đến các đảo trên sông Hương. Có thể tận mắt nhìn thấy những phế tích về một lầu đài xưa kia cực kỳ hoa lệ trên Dã Viên, những con người trên các đảo, những làng nghề sông nước ở cồn Hến và tất nhiên, thưởng thức tại đây những món ăn hải sản tươi sống vừa đánh bắt từ sông Hương lên, hay cũng chỉ cần ăn cơm hến, chè bắp xứ cồn là đủ... Nếu may mắn hơn, có thể dự một buổi lễ cúng tâm linh miền sông nước. Đó không phải là những cái thú sao
Theo Hương Cẩn (báo Người Lao Động), ảnh internet
Du lịch, GO!
Phú Quốc sắp có điện lưới QG
(TTO) - Bằng sự nỗ lực cao, đến nay công tác dò phá bom mìn, thăm dò địa chất dưới biển và hai bờ Phú Quốc, Hà Tiên đã hoàn tất, sẵn sàng cho việc thi công lắp đặt cáp ngầm xuyên biển.
Theo Tổng công ty Điện lực miền Nam, đến nay Dự án ngầm xuyên biển 110kV Hà Tiên - Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã hoàn thành 100% các hạng mục trên bờ, còn lại phần lắp đặt cáp ngầm xuyên biển Hà Tiên - Phú Quốc sẽ thi công từ ngày 17-11-2013, dự kiến thời gian thi công khoảng 25 ngày. Hiện nhà thầu Prysmian Powerlink (Ý) đã chuyển cáp đến điểm tiếp bờ Phú Quốc.
Về kỹ thuật rải cáp điện ngầm dưới đáy biển, nhà thầu thống nhất chọn phương pháp rải và chôn cáp đồng thời. Phương pháp này có ưu điểm là giảm thiểu hư hỏng cáp ngầm, tuy nhiên chi phí đầu tư cao do công nghệ phức tạp.
Với quy mô lớn, công nghệ phức tạp, lần đầu tiên được thực hiện tại VN và khu vực Đông Nam Á, tuyến cáp ngầm 110kV xuyên biển Hà Tiên - Phú Quốc có chiều dài 55,813km, khả năng truyền tải 131MW, điểm đầu phía đất liền ở ấp Hòa Phầu, xã Thuận Yên, thị xã Hà Tiên và tiếp giáp bờ phía Phú Quốc ở mũi Đá Bạc, ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh.
Toàn bộ dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2013 với tổng mức đầu tư 2.467 tỉ đồng, từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới và vốn của EVN SPC.
Theo đó, máy chôn cáp được kéo bởi tàu chủ di chuyển phía trước theo tuyến đã được thiết kế bằng các neo điều khiển hướng theo hệ thống định vị toàn cầu GPS. Hệ thống ống phun nước cao áp trên 2 thân cài đặt hai bên thân cáp tạo nên rãnh cáp ở phía trước có độ sâu theo chế độ cài đặt. Cáp được thả xuống đáy rãnh ở phía sau.
Máy chôn cáp di chuyển về phía trước, tiếp tục phun nước cao áp tạo rãnh, đồng thời lượng đất cát xói lở sẽ được ống phun định hướng đẩy về phía sau lấp đầy rãnh cáp.
Quá trình này được thực hiện một cách liên tục và đồng thời. Độ sâu chôn cáp có thể điều chỉnh bằng hai chân trượt phía trước, tối đa có thể chôn sâu 3m so với mặt đáy biển tùy thuộc địa hình đáy biển. Quá trình thực hiện rải và chôn cáp được thực hiện hoàn toàn tự động tuân thủ chế độ giám sát, kiểm soát, điều khiển nghiêm ngặt.
Trước đó, để quá trình thi công đặt cáp ngầm diễn ra đúng kế hoạch và đảm bảo an toàn, Tổng công ty Điện lực miền Nam đã hợp đồng với Công ty TNHH MTV 29 (Công ty 29) thuộc Tổng công ty 319 ( Bộ Quốc phòng) rà phá bom mìn, vật nổ thuộc dự án cáp ngầm xuyên biển 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc để kịp thi công.
Bằng sự nỗ lực cao, đến nay công tác dò phá bom, mìn, thăm dò địa chất dưới biển và hai bờ Phú Quốc, Hà Tiên đã hoàn tất, sẵn sàng cho công tác thi công lắp đặt cáp.
Việc điện lưới vượt biển đến đảo sẽ góp phần thúc đẩy Phú Quốc phát triển nhanh và vững chắc hơn trong nền công nghiệp không khói là du lịch.
Theo báo Tuổi Trẻ
Du lịch, GO!
Theo Tổng công ty Điện lực miền Nam, đến nay Dự án ngầm xuyên biển 110kV Hà Tiên - Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã hoàn thành 100% các hạng mục trên bờ, còn lại phần lắp đặt cáp ngầm xuyên biển Hà Tiên - Phú Quốc sẽ thi công từ ngày 17-11-2013, dự kiến thời gian thi công khoảng 25 ngày. Hiện nhà thầu Prysmian Powerlink (Ý) đã chuyển cáp đến điểm tiếp bờ Phú Quốc.
Về kỹ thuật rải cáp điện ngầm dưới đáy biển, nhà thầu thống nhất chọn phương pháp rải và chôn cáp đồng thời. Phương pháp này có ưu điểm là giảm thiểu hư hỏng cáp ngầm, tuy nhiên chi phí đầu tư cao do công nghệ phức tạp.
Với quy mô lớn, công nghệ phức tạp, lần đầu tiên được thực hiện tại VN và khu vực Đông Nam Á, tuyến cáp ngầm 110kV xuyên biển Hà Tiên - Phú Quốc có chiều dài 55,813km, khả năng truyền tải 131MW, điểm đầu phía đất liền ở ấp Hòa Phầu, xã Thuận Yên, thị xã Hà Tiên và tiếp giáp bờ phía Phú Quốc ở mũi Đá Bạc, ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh.
Toàn bộ dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2013 với tổng mức đầu tư 2.467 tỉ đồng, từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới và vốn của EVN SPC.
Theo đó, máy chôn cáp được kéo bởi tàu chủ di chuyển phía trước theo tuyến đã được thiết kế bằng các neo điều khiển hướng theo hệ thống định vị toàn cầu GPS. Hệ thống ống phun nước cao áp trên 2 thân cài đặt hai bên thân cáp tạo nên rãnh cáp ở phía trước có độ sâu theo chế độ cài đặt. Cáp được thả xuống đáy rãnh ở phía sau.
Máy chôn cáp di chuyển về phía trước, tiếp tục phun nước cao áp tạo rãnh, đồng thời lượng đất cát xói lở sẽ được ống phun định hướng đẩy về phía sau lấp đầy rãnh cáp.
Quá trình này được thực hiện một cách liên tục và đồng thời. Độ sâu chôn cáp có thể điều chỉnh bằng hai chân trượt phía trước, tối đa có thể chôn sâu 3m so với mặt đáy biển tùy thuộc địa hình đáy biển. Quá trình thực hiện rải và chôn cáp được thực hiện hoàn toàn tự động tuân thủ chế độ giám sát, kiểm soát, điều khiển nghiêm ngặt.
Trước đó, để quá trình thi công đặt cáp ngầm diễn ra đúng kế hoạch và đảm bảo an toàn, Tổng công ty Điện lực miền Nam đã hợp đồng với Công ty TNHH MTV 29 (Công ty 29) thuộc Tổng công ty 319 ( Bộ Quốc phòng) rà phá bom mìn, vật nổ thuộc dự án cáp ngầm xuyên biển 110 kV Hà Tiên - Phú Quốc để kịp thi công.
Bằng sự nỗ lực cao, đến nay công tác dò phá bom, mìn, thăm dò địa chất dưới biển và hai bờ Phú Quốc, Hà Tiên đã hoàn tất, sẵn sàng cho công tác thi công lắp đặt cáp.
Việc điện lưới vượt biển đến đảo sẽ góp phần thúc đẩy Phú Quốc phát triển nhanh và vững chắc hơn trong nền công nghiệp không khói là du lịch.
Theo báo Tuổi Trẻ
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













.jpg)




























