Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

Đánh yến: hội của người Mông

Trong các lễ hội đầu năm hay những dịp hội hè, người Mông tại Mộc Châu, Sơn La thường tổ chức những cuộc thi đánh yến. Ban đầu chỉ đơn giản là trò chơi dân gian của những cặp trai gái ngày xuân bầu bạn , nhưng trải qua nhiều thế hệ: đánh yến trở thành một môn thi đấu không thể thiếu tại các ngày hội của đồng bào dân tộc .

Hội đánh yến diễn ra trên những khu đất rộng và bằng phẳng. Người chơi được chia làm hai bên nam và nữ, cũng có thể là hai đội nam nữ lẫn nhau tùy theo từng cuộc chơi. Trò đánh yến cũng gần giống đánh cầu lông. Quả yến được làm bằng tre mai, giữa đế nối một ống trúc ngắn cắm từ ba đến năm chiếc lông gà.

Vợt làm bằng thứ gỗ mềm và nhẹ, to hơn vợt bóng bàn một chút và có hình chữ nhật. Người chơi sẽ dùng vợt này để đánh quả yến sang phần sân của đối phương. Trong khi chơi, họ giao ước với nhau về số lần đánh trúng hoặc đánh qua lưới, nếu bên nào thua thì phải hát một bài, thổi một điệu khèn hoặc làm một điều gì đó mà hai bên cùng quy định, đôi khi cũng có thể là những phần thưởng cho bên nào thắng.

Đánh yến là một trò chơi giao duyên truyền thống, vừa là một trò chơi thi đấu như một môn thể thao.

Thanh niên đến cuộc chơi vừa vui vừa để tìm bạn đời. Vì vậy trò đánh yến có hai hình thức chơi: Nếu là chơi đánh yến giao duyên, mỗi khi đến hội, trai gái người Mông thường mang theo quả yến và vợt để tự đánh với nhau, một bên nam và một bên nữ.

Đánh yến không hạn chế về số lượng người chơi, có lúc tới hằng trăm đôi trai gái đứng vây thành một vòng tròn rộng để cho nhiều quả yến cùng bay một lúc.

Cũng có thể chỉ cần 2 người, một nam và một nữ là có thể chơi. Đánh yến giao duyên không cần lưới mà chỉ đánh qua đánh lại cho vui. Thông qua đó, họ thầm kín trao cho nhau cả những ánh mắt, nụ cười. Trong cuộc vui nếu cô gái, chàng trai ưng một người nào đó, họ sẽ khéo léo thể hiện tình cảm qua ánh mắt, nụ cười. Nếu không ưng nhau thì họ tìm cách từ chối khéo không để mất lòng nhau rồi cùng tìm bạn khác để tiếp tục chơi.

Nếu là đánh yến trong một cuộc thi, hai đội sẽ cùng đánh yến qua một lưới cao chừng 2 mét sang phần sân chơi của bên kia như đánh cầu lông. Bên thắng cuộc sẽ được một phần thưởng do cuộc chơi quy định từ trước. Tuy nhiên, những phần thưởng này cũng thường rất đơn giản và mang tính khích lệ vui vẻ trong ngày hội. Thường thì người thua sẽ phải trao tặng cho người thắng những món quà của mình, các cô gái thường tặng những tấm khăn thêu, những sản phẩm từ chính đôi tay khéo léo với một lời nhắn về một mái ấm gia đình hạnh phúc.

Tại các lễ hội, trước lúc diễn ra trò thi đánh yến, các bà then, ông mo mặc áo thêu hình chim én, với tiếng đàn thánh thót và giọng hát mượt mà “dẫn dắt” mọi người trong hội theo cánh én mùa xuân lên thăm Mường Trời, nơi có những cảnh vật thần tiên mà con người hằng mong ước đến cuộc sống no ấm, tươi đẹp… Sau đó, các Pú Mo lấy những quả yến từ mâm cúng phân phát cho mọi người cùng thi trong hội.

Tương truyền rằng, đánh yến có nguồn gốc từ câu chuyện về một chàng trai ở “Mường Trời”. Trong một chuyến du xuân dưới hạ giới, chàng đã phải lòng một cô gái và mỗi khi uống rượu say, chàng lại rủ người yêu của mình đánh yến để giã rượu. Yến ban đầu được đánh bằng tay, sau này được đánh bằng vợt gỗ cũng không biết tự bao giờ. Từ năm 2000 , đánh yến đã chuyển thành một môn thi đấu tại hội thể thao người dân tộc .

Theo ANTĐ - Ảnh Soha.vn
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Vua của ngàn ngôi mộ ở Tây Côn Lĩnh

(VTC) - Chưa ai thử đếm dọc sườn Tây Côn Lĩnh (Hoàng Su Phì, Hà Giang) có bao nhiêu ngôi mộ tròn hình bát úp, chỉ ước chừng vài nghìn cái.

Ra khỏi lối đi dốc và rậm rạp, dừng lại giữa con đường đất đỏ ven sườn đồi thoáng rộng là những gò đống hình bát úp to lớn. Đây chính là khu mộ cổ bí ẩn của người La Chí.

Thoạt nhìn, những gò đống ấy như lẫn vào sự nhấp nhô của những sườn đồi đầy cỏ dại. Nhưng không hiểu sao chúng đều có hình tròn, cao tầm hơn 1,5 m và rộng như một gian nhà, nằm cách nhau vài mươi bước chân một cách đều đặn.

< Đám trẻ vô tư nô đùa bên những ngôi mộ cổ.

Càng mở rộng tầm nhìn, những gò đống ấy như càng nhiều thêm. Có những ngôi mộ vẫn tròn to nguyên vẹn, nhưng cũng có những ngôi đã bị sạt, lở ra từng mảng đất trắng trụi cỏ. Xem nếp đất từ những ngôi mộ vỡ, có ngôi liền thổ, nhưng cũng có ngôi đất đắp xen dấu sỉ than như được cố tình đắp giả.

< Ngôi mộ cổ bị phạt qua do làm đường, không có dấu tích mai táng, chỉ là mộ giả.

Đám trẻ con người La Chí đang thỏa sức nô đùa bên các ngôi mộ cổ. Cứ mấy đứa chung một thanh vầu cứng, ôm lưng nhau hào hứng với trò chơi trượt cỏ xuống dốc, đến thủng cả đít quần.

Lễ phép chào hỏi khách, mấy đứa trẻ hồn nhiên chỉ tay vào một gò đất to có mấy đứa bạn đang chễm chệ ngồi bên trên: “Mộ vua đấy, nhưng bên trong không có gì đâu”. Dọc sườn núi của dãy Tây Côn Lĩnh này ước chừng vài nghìn cái như vậy. Bởi ở cả các xã Bản Díu, Bản Phùng, Bản Máy… thậm chí sang cả đất Trung Quốc, cứ nơi nào có người La Chí sinh sống thì đều có những ngôi mộ tương tự, cùng gọi là mộ vua.

< Người La Chí tin rằng, hàng ngàn ngôi mộ giả của vua Hoàng Vần Thùng chỉ đắp trong một đêm.

Người dân địa phương đều biết đây là những ngôi mộ giả, không có hài cốt chôn cất bên trong. Nhưng mộ có từ bao giờ, ai đã đắp và đắp để làm gì thì kể cả người La Chí nhiều tuổi nhất, am hiểu phong tục tập quán dân tộc mình nhất cũng không thể biết một cách chính xác.

Chỉ có một ngôi mộ lớn, được người dân địa phương đặc biệt tôn kính, là cả quả đồi ở trong rừng thiêng của bản Lủng Cẩu. Tương truyền là mộ của ông Hoàng Vần Thùng, vua của người La Chí. Người La Chí tin rằng, hàng nghìn ngôi mộ giả của vua Hoàng Vần Thùng* chỉ đắp trong một đêm.

< Núi Lủng Cẩu, tương truyền là ngôi mộ chính của vua Hoàng Vần Thùng.

Bản Lủng Cẩu nằm thoai thoải, ngay kề dưới chân rừng vua, với 51 hộ dân, 310 nhân khẩu, toàn người La Chí. Theo những người già uy tín của Hoàng Su Phì, Lủng Cẩu có nghĩa là “làng cổ”, “làng cũ”, chỉ nơi đã có người dân sinh sống lâu đời.

< Ngôi miếu thờ linh thiêng mỗi năm chỉ mở cửa một lần trên đỉnh Lủng Cẩu.

Ngay ở giữa bản có một ngôi nhà sàn bốn bề vách trống. Đó là ngôi nhà chung của cộng đồng, nơi diễn ra những cuộc họp, nghi lễ, và nơi cất chứa những chiếc sọ trâu thờ cúng của người La Chí.

< Một góc bản Lủng Cẩu.

Núi Lủng Cẩu không cao, chỉ có một ngôi cổ miếu, là gian nhà nhỏ tranh tre nứa lá màu xám bạc nằm u tịch giữa khoảng đất trống. Cổ miếu Lủng Cẩu là nơi linh thiêng nhất của người La Chí, quanh năm đóng kín, tuyệt đối không một ai dám mở dù cửa chỉ cài hờ bằng một cành cây. Trong miếu có ba ban thờ. Chính giữa thờ vua Hoàng Vần Thùng. Hai bên là ban thờ bà vợ và người thư ký của ngài.

< Ông Hoàng Ngọc Lâm tin rằng, gò đất của người La Chí liên quan tới việc đánh dấu lãnh thổ.

Cộng đồng người La Chí chỉ có bốn dòng họ là Long (Lùng), Vương (Vàng), Ly (Lý), Tận, cùng thờ vua Hoàng Vần Thùng là người từ xa xưa có công dựng bản, bảo vệ người dân.

Những người già kể lại, khi vua mất, chỉ một đêm bỗng khắp vùng mọc lên hàng nghìn ngôi mộ đất. Không rõ có bao nhiêu người đã tham gia đắp nên, hay nhờ sự linh thiêng huyền bí nào đó mà tạo thành. Người dân La Chí không ai dám phạm đến, kể cả mộ nằm giữa vườn, giữa ruộng cũng không dám đụng một nhát cuốc nào vào.

Người ta cũng đồn đoán rằng trong những ngôi mộ có của cải. Nghe đâu người bên kia biên giới như ở Ma Li Pho (Trung Quốc) cũng thử đào. Nhưng từ những ngôi mộ lở có thể thấy hết bên trong thì hoàn toàn không có sự mai táng nào, kể cả đồ quý chôn theo.

Mộ của người La Chí, thường có những chiếc sọ trâu và chai đựng rượu, nước cho người đàn ông sang thế giới bên kia. Dù rất nhiều người dân tộc ở Hà Giang coi Hoàng Vần Thùng là vua, nhưng không ai rõ thân thế, sự nghiệp của ngài thế nào, là người thực hay huyền thoại.

* Có thông tin khác là 'Hoàng Dìn Thùng'

Theo VTC New
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Về Kon Sơ Lăl xem múa hề

(TTCT) - Làng Kon Sơ Lăl (cũ) ở xã Hà Tây, huyện Chư Pah, cách thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai khoảng 50km về hướng bắc. Một ngôi làng cả trăm tuổi mang đậm nét đặc sắc người Ba Na, một di sản của Tây nguyên nhưng lại đang xuống sắc một cách đáng tiếc.

< Các chú hề trẻ tuổi rất hào hứng trong vai diễn của mình.

Làng Kon Sơ Lăl cũ nằm chon von trước bìa rừng. Sở dĩ gọi là làng cũ vì từ năm 2002, những hộ dân trong làng đã di dời và định cư ở làng Kon Sơ Lăl mới cách đó 3km. Làng mới nay khang trang với nhà bêtông lợp tôn, có điện và nước sạch đến từng nhà.

Ngôi làng trăm tuổi

< Một góc làng Kon Sơ Lăl.

Làng cũ không có điện, không hàng quán và chỉ còn bốn người ở là bok (bác) Chil, bok Chưng, bok Kơch và bà Dyơi đều đã ở cái tuổi 70-80. Giống như một bảo tàng kiến trúc nguyên bản đã đóng cửa cài then, quanh làng Kon Sơ Lăl cũ um tùm những cây mít, cây khế, cây chùm ruột tán tròn vo, che bóng mát cho hơn 50 nóc nhà sàn mái tranh, vách đất làm bằng đất bùn trộn rơm.

Những nóc nhà lô nhô so le quần tụ trên một mảnh đất khá bằng phẳng. Giữa làng là một nhà rông “cái” chân ngắn, bề thế, mái tranh bạc phếch màu nắng mưa, hơi cong và dài như một con thuyền lớn úp ngược.

Nó giống như cái nhà rông Ba Na xưa mà nhà văn Nguyên Ngọc từng mô tả “trang trọng và hơi nặng nề, như một vị bô lão hiền minh và nhân hậu, hoặc như một dấu nhấn trầm và đục, khiến cho cái giai điệu kiến trúc nhịp nhàng chung của làng bỗng chứa thêm một sức nặng, một chiều sâu thâm trầm, hơi có chút gì đó huyền bí, thiêng liêng” (Tuyển tập Nguyên Ngọc).

Nó thật sự là một ngôi làng theo lối kiến trúc Ba Na nguyên bản và đẹp nhất mà tôi từng gặp. Cảm giác quá đỗi bình yên khi đặt chân đến ngôi làng, tiếng chim hót véo von trong lùm cây xanh, tiếng ủn ỉn của những chú heo mán và cả tiếng gà cục tác trên vách nhà sàn… Xa xa bìa rừng là muôn vàn những bông dã quỳ vàng khoe sắc...


< Những trái bầu được phơi khô, khoét ruột dùng làm dụng cụ đựng nước của người Ba Na.

Trong nắng chiều vàng ruộm đổ xuống vách nhà tranh, già Chưng, 80 tuổi, cùng đứa cháu 2 tuổi ngồi tỉ mẩn vót tre đan gùi. Thấy có người lạ vào làng, già vui vẻ mời vào nhà uống nước, rồi đem đàn goong ra gảy. Tiếng đàn réo rắt, trầm bổng như muốn nhắn nhủ lữ khách hãy ở lại thật lâu cho vơi nỗi buồn của ngôi làng cổ kính này.

Chủ tịch xã Hà Tây Đinh Sưk, tuổi đã xấp xỉ 60, kể: “Mình cũng chẳng biết làng Kon Sơ Lăl cũ có từ khi nào nữa. Chỉ biết từ đời ông bà mình đã có rồi, có lẽ phải hơn trăm tuổi đấy. Làng cũ trước kia có 85 hộ với 454 khẩu. Người làng cũ dời sang làng mới vì có điện và nước sạch. Mình tiếc làng cũ lắm nhưng chẳng biết phải làm sao!”.

Giữ lại những pơtual

Đến Kon Sơ Lăl vào đúng dịp lễ hội bạn sẽ ấn tượng với những pơtual (người làm trò hề). “Có thể nói đây là nét văn hóa đặc sắc của người Ba Na ở làng nói riêng và xã Hà Tây mình nói chung” - ông Đinh Sưk nói đầy tự hào.

< Già Chưng gảy đàn đón khách.

Nếu trong lễ bỏ mả của đồng bào Jrai chỉ có các pram (con rối) thì tất thảy các lễ hội của người Ba Na như lễ bỏ mả, lễ mừng lúa mới, lễ mừng chiến thắng… đều có sự xuất hiện của pơtual với điệu “xoang prim” (múa hề). Pơtual được bôi một lớp đất sét, toàn thân có màu vàng nhạt và được gắn thêm chiếc đuôi.

Dụng cụ hóa trang cho các pơtual cực kỳ đơn giản và dân dã bằng cách lấy đất sét ở suối pha với nước thành bột loãng, sau đó bôi lên người. Để gây ấn tượng, người làng còn lấy rễ cây long mun (bộ rễ cây si) hay những bao tải rách kết lại thành những tấm áo, khố rất lạ mắt.


< Pơtual (người làm trò hề) - nét văn hóa đặc sắc của người Ba Na.

Người dân ở đây cho rằng sự xuất hiện của pơtual làm nguôi ngoai nỗi đau của người sống trước sự chia lìa trong lễ pơ thi (bỏ mả), đồng thời làm tăng nỗi hân hoan của một mùa vụ no ấm trong lễ mừng lúa mới… Pơtual vừa là nhân vật chính, vừa là nhân vật phụ nhưng không thể thiếu trong lễ hội của buôn làng.

Tôi rời làng Kon Sơ Lăl trong nắng chiều đã nguội vàng. Ngôi làng trăm tuổi đã thưa tiếng người, còn người làng Kon Sơ Lăl vẫn đang âm thầm gìn giữ, bảo tồn những kiến trúc văn hóa của cha ông họ. Tôi chợt nghĩ rồi mai đây khi thế hệ lớn tuổi đi về thế giới bên kia, chẳng biết còn ai có thể tiếp tục công việc giữ gìn, bảo tồn di sản văn hóa này cho Tây nguyên.
Một nét chấm phá tuyệt vời cho ngành du lịch Gia Lai mà sao chưa ai nghĩ đến?

Theo Tiến Thành (Tuổi Trẻ Cuối Tuần)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Treo xác chết cúng ma ở Sơn La

(VTC News) - Tử thi được quấn kín bằng vải, chỉ hở khuôn mặt và ngón tay, ngón chân, đặt nằm ngửa trên tấm gỗ, treo lơ lửng trên tường, ngay dưới bàn thờ. Cuộc sống của họ cổ sơ, còn lưu giữ nhiều hủ tục lạc hậu, trong đó, tục cúng ma tiễn người về trời khiến người chưa một lần chứng kiến phải rùng mình sợ hãi.

Bản Lũng Khoai A (Suối Tọ, Phù Yên, Sơn La) hiện ra trong mây mù, với những ngôi nhà làm bằng gỗ pơ-mu. Từ cột, kèo, cửa, đến mái cũng lợp bằng gỗ bằng pơ-mu, đã lên màu đen bóng. Tôi và Sùng A Lừ (Chủ tịch xã Suối Tọ) đang trò chuyện rôm rả thì nghe văng vẳng từ phía sườn núi bên kia tiếng khóc than ai oán lẫn với tiếng chiêng, tiếng trống. Sùng A Lừ bảo phải sắm sửa quần áo để chuẩn bị đi làm lễ tiễn ma về trời cho bà Mùa Thị Mỵ.

Trong ngôi nhà xập xệ, chênh vênh trên vách núi khói hương bốc lên nghi ngút, người già, trẻ con ngồi lố nhố tràn ra cả hiên. Được anh Lừ giới thiệu là nhà báo, con cháu bà Mỵ chạy ra bắt tay rất... vui vẻ!

Phó chủ tịch Lừ nói một hồi bằng tiếng Mông, yêu cầu mọi người khóc để tôi chụp ảnh. Người con cả của bà Le chỉ đạo mọi người, lập tức kèn trống nổi lên, chiêng gõ liên hồi, một thanh niên ôm chiếc khèn rất lớn gắng sức thổi và nhảy lò cò quanh nhà như dẫm phải than bỏng.
Kèn trống vừa dứt thì mấy cậu con trai, con gái, con dâu, con rể lao vào ôm mẹ khóc lóc thảm thiết. Tử thi được quấn kín bằng vải, chỉ hở khuôn mặt và ngón tay, ngón chân, đặt nằm ngửa trên tấm gỗ, treo lơ lửng trên tường, ngay dưới bàn thờ.

< Xác chết bà Mỵ được treo lên vách nhà.

Chúng tôi tìm đến nhà cụ Sồng A Khư, hiện đã 90 tuổi, được đồng bào sống quanh ngọn núi Pay Trò coi là cuốn sách sống về phong tục tập quán của người Mông. Cụ là thầy cúng và vẫn hút thuốc phiện đen đều đều. Cụ kể rằng, người Mông quan niệm con người gồm phần hồn và phần xác. Nhưng người Mông không quan tâm nhiều đến phần xác. Họ cho rằng, con người sinh ra trên cõi trần, chỉ cần nhìn thấy mặt trời ba lần cũng là một kiếp người rồi.

Người Mông đặc biệt quan tâm đến phần hồn. Họ cho rằng con người có 3 linh hồn, gồm linh hồn ở phần đầu, linh hồn ở phần ngực và linh hồn ở phần rốn. Khi con người chết đi, linh hồn ở đỉnh đầu sẽ bay lên tầng cao nhất của Trời, đó là tầng của tổ tiên, trên đó có cuộc sống đầy đủ như ở trần gian.

< Cụ Sồng A Khư là thầy cúng nên hiểu rất rõ tục cúng ma của người Mông.

Linh hồn vùng ngực sẽ bay lên tầng Ngọc Hoàng và đầu thai vào kiếp khác. Nếu người sống có lương tâm thì đầu thai vào kiếp người, sống ác thì đầu thai vào kiếp con vật. Còn linh hồn ở phần rốn thì ở lại canh mộ và thường xuyên quấy nhiễu cuộc sống con người.

Xuất phát từ quan niệm có 3 thế giới linh hồn mà trong tang lễ của người Mông có rất nhiều nghi lễ phức tạp, diễn ra trong nhiều ngày. Trước tiên, khi trong nhà có người chết, gia chủ làm lễ báo tin cho xóm giềng xung quanh bằng 9 phát súng, 3 hồi tù và. Sau đó, mỗi ngày, cứ đến bữa ăn, trưởng họ đều bắn 3 phát súng kíp để đuổi tà ma.

Người chết có bao nhiêu con cái thì phải mặc bấy nhiêu bộ quần áo, thể hiện sự hiếu thảo của con cái. Bên ngoài được quấn bằng bộ quần áo truyền thống, vải lanh đen. Bất kể người chết là đàn ông hay đàn bà đều quấn 3 dải vải màu xanh, đỏ, vàng, chân đi tất, quấn xà cạp, là trang phục của phụ nữ.

< Thổi khèn nhảy múa trong lễ cúng ma.

Đời trước truyền lại rằng, tục này có liên quan đến một câu chuyện xa xưa. Người Mông bị giặc Hán ở phương Bắc đánh đuổi, bao nhiêu đàn ông đều bị giết hết. Để bảo tồn nòi giống, đàn ông đều ăn mặc quần áo đàn bà trong quá trình chạy trốn.

Có lẽ, câu chuyện lịch sử đau thương đó vẫn còn tiềm ẩn trong ký ức người Mông và họ cho người chết mặc quần áo phụ nữ cũng là tránh không để giặc Hán bắt hồn đi. Người chết một ngày sau được Dở mổ (thầy cúng lễ chỉ đường) làm lễ cúng ma tươi. Trong không khí lặng ngắt như tờ, ông thầy cúng sau khi múa một bài thì ngồi xuống nền nhà, cạnh xác chết đọc bài khúa khê (chỉ đường) cho hồn người chết về với tổ tiên.

Bài khúa khê có đoạn như sau: "Mình chết thật hay mình chết giả. Mình chết giả thì mình dậy đi. Lúc này người và vũ trụ u buồn lạnh ngắt. Mình chết thật thì quay mặt lại. Lắng tai nghe Dở mổ ta hát ba mươi sáu bài. Chỉ đường, chỉ lối cho biết đường về cùng tổ tiên". Ngoài lễ cúng của Dở mổ, còn có lễ thổi khèn, đánh trống, chiêng. Đội khèn trống làm lễ vài lần trong ngày và kéo dài trong suốt quá trình Dở mổ làm lễ ma tươi.

Tiếng khèn có nội dung là lời của hồn người chết chào từ biệt mọi người để về với thế giới tổ tiên. Tùy vào vị trí người chết trong dòng họ mà nội dung bài khèn khác nhau. Bài khèn của bà Mỵ được già bản Sồng A Khư dịch một đoạn như sau: "Mẹ chết. Mẹ thoát khỏi con đường đau khổ nơi trần gian đất đỏ. Mẹ trối trăng. Mẹ thương các con ở lại khổ thật khổ. Mẹ thương các con không lấy nổi chồng, nổi vợ, không nuôi nổi nhau...".

Sau bài khèn thì diễn ra lễ đuổi tà ma. Nếu nam chết thì có 9 người, nữ chết thì có 7 người cầm gậy, dao chạy quanh người chết để đuổi tà ma, không cho tà ma bắt linh hồn người chết đi. Tiếp đó là dằng dặc vài ngày, cứ đến giờ cúng là Dở mổ lại đọc bài chỉ đường. Nội dung của bài chỉ đường kể về nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc loài người, các dòng họ, cách thức sinh ra cây cỏ, chim muông, chặng đường đi về với tổ tiên qua bao nhiêu khó khăn, gặp bao nhiêu thú độc...

Theo cụ Khư, cách đây mấy chục năm, có nhà giàu ở Tà Xùa (Bắc Yên) còn mổ tới 15 con trâu để "chiêu đãi" cả mấy bản quanh đó trong suốt 15 ngày diễn ra lễ tang ma. Điều đó có nghĩa là, xưa kia, người Mông để xác người chết trong nhà suốt 15 ngày mới chôn.

Theo VTC New
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Sử thi về Hải đội Hoàng Sa

(BAVN) - Từ bao đời nay, ở huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) vẫn lưu truyền câu chuyện lịch sử về các anh hùng dân binh của Hải đội Hoàng Sa thời nhà Nguyễn đã dũng cảm chèo thuyền vượt sóng ra quần đảo Hoàng Sa để thực thi nhiệm vụ cắm mốc chủ quyền và bảo vệ biển đảo của quê hương.

< Hàng vạn du khách trong và ngoài nước về dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn.

Chuyến tàu đưa chúng tôi từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi) ra đảo Lý Sơn vào một ngày cuối tháng Tư đông kín người. Dường như càng gần đến ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn thì những chuyến tàu từ đất liền ra đảo càng đông hơn.

< Đình làng An Vĩnh, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia, nơi thờ tự các âm linh của Hải đội Hoàng Sa.

Bởi theo lệ, hàng năm, cứ đến ngày này, con dân của đảo Lý Sơn dù đang sinh sống ở đâu cũng tìm về để dự ngày lễ tri ân các bậc tiền nhân của mình. Không những thế, ngư dân ở các tỉnh bạn như Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam… cũng nô nức đổ về Lý Sơn dự Lễ vì họ tâm niệm Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cũng như là ngày giỗ chung của nghề đi biển trong vùng.

< Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên đảo Lý Sơn.

Trên chuyến tàu đó, tình cờ chúng tôi đã gặp Phạm Văn Biên, cậu sinh viên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Tp. Hồ Chí Minh và cũng chính là hậu duệ đời thứ 7 dòng họ Phạm nổi tiếng của Hải đội Hoàng Sa ở Lý Sơn. Cũng như bao nhiêu người dân Lý Sơn khác, Biên cũng đang trên đường về quê dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

< Ngôi mộ của Cai đội thuỷ quân Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơn.

Biên kể: “Hồi mới ba, bốn tuổi em đã được bố mẹ đưa đi xem Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tính ra em cũng đã được xem Lễ này khoảng 20 lần. Chuyến này ra đảo em sẽ cùng các anh đi xem Lễ khao lề và tham quan các di tích lịch sử liên quan đến Hải đội Hoàng Sa”.

< Các bản chỉ dụ...

Những ngày ở Lý Sơn, Biên nhiệt tình đưa chúng tôi đi tham quan nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh trên đảo. Đảo Lý Sơn rộng chưa đầy 10 cây số vuông nhưng có tới gần 100 di tích và phần lớn đều gắn liền với Hải đội Hoàng Sa như: Âm linh tự, Khu mộ gió lính Hoàng Sa, Đình làng An Vĩnh, Đình làng An Hải, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh, Nhà thờ Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết, Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, Búng bà Rí…

< ... thẻ bài và di vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa hiện còn được lưu giữ tại nhiều dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn.

Đặc biệt, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn đã được Nhà nước công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia. Hải đội Hoàng Sa là tên gọi đội tàu hàng hải do chính quyền chúa Nguyễn xứ Đàng Trong lập ra từ hồi đầu thế kỷ 17 để làm nhiệm vụ đi khai thác sản vật, đo đạc hải trình, bảo vệ và cắm mốc chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo nhiều nguồn sử liệu chính thống, Hải đội Hoàng Sa ra đời vào khoảng trước năm Tân Mùi (1631), tức dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (trị vì 1613 - 1635), vị chúa thứ hai của nhà Nguyễn.

Minh chứng rõ ràng nhất cho sự ngưỡng vọng của người dân Lý Sơn đối với các bậc tiền nhân chính là di tích Âm linh tự. Đây là nơi thờ các dân binh của Hải đội Hoàng Sa đã gặp nạn hy sinh trên biển trong khi đang làm nhiệm vụ của triều đình.

< Thổi ốc u báo hiệu khai Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Đối với ngư dân Lý Sơn, trước mỗi chuyến ra khơi họ đều đến đây thắp hương làm lễ. “Ngư dân Lý Sơn đều tin rằng khi ra khơi họ sẽ được Hải đội Hoàng Sa phù hộ, che chở trước sóng to gió lớn. Đối với dân đi biển chúng em, điều này đã trở thành như một thứ tín ngưỡng anh ạ!” - Biên tự hào nói với chúng tôi.

< Các nhà sư làm lễ cầu siêu cho dân binh Hải đội Hoàng Sa.

Chuyên nghiệp như một hướng dẫn viên du lịch, Biên dẫn chúng tôi đến tượng đài Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải và Nhà trưng bày lưu niệm Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải nằm ngay trên trục đường chính của đảo Lý Sơn. Biên giới thiệu cẩn thận từng hiện vật như manh chiếu, tấm thẻ bài, nẹp tre, cuộn mây…

< Lễ chánh tế Hải đội Hoàng Sa.

Đó là những vật dụng các dân binh Hải đội Hoàng Sa xưa thường phải mang theo trong mỗi chuyến ra Hoàng Sa, để nếu lỡ may có bỏ mạng giữa trùng khơi, đồng đội sẽ dùng để bó xác thả trôi xuống biển với ước mong nhờ sóng biển đưa về quê hương bản quán.

Nghe câu chuyện của Biên, Bà Han, chuyên viên khảo sát của một công ty du lịch Hàn Quốc có văn phòng đóng tại Tp. Hồ Chí Minh đến bắt chuyện. Nghe tin ở Lý Sơn có Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa nên bà đã thu xếp ra đây từ mấy hôm trước.

< Nghi thức tung gạo, muối...

Bà Han cho biết, câu chuyện về Hải đội Hoàng Sa và những di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh trên đảo Lý Sơn chính là cơ sở để công ty của bà mở tour du lịch đưa khách từ Hàn Quốc đến thăm đảo Lý Sơn. “Việt Nam và Hàn Quốc đều là quốc gia có biển đảo, vì thế tôi tin rằng du khách của chúng tôi sẽ khám phá được nhiều câu chuyện thú vị về những người anh hùng đi mở biển của đất nước các bạn” – Bà Han chia sẻ.

< ...và hát gọi hồn cho các dân binh Hải đội Hoàng Sa.

Rời Nhà lưu niệm, Biên dẫn chúng tôi đến nhà cụ Võ Hiển Đạt ở xã An Vĩnh, nghệ nhân chuyên làm các thuyền câu để phục vụ cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Gần đến ngày lễ trọng nên nhà cụ Đạt nhộn nhịp khác thường. Đám thanh niên trong xã tụ tập đến xem và học cách cụ Đạt làm thuyền câu. Cụ Đạt giảng giải: “Những chiếc thuyền này chính là mô hình của loại thuyền câu mà 400 trước Hải đội Hoàng Sa đã dùng để vượt sóng ra Hoàng Sa cắm mốc và đo đạc thủy trình”.

Cụ Đạt giới thiệu với chúng tôi người đệ tử chân truyền của mình là anh Phạm Văn Bổn. Anh Bổn theo cụ Đạt học nghề được 5 năm và đã làm được những mô hình thuyền câu theo đúng quy cách của người xưa để lại. Anh tự hào tâm sự: “Tục thả thuyền câu đã có từ hàng trăm năm nay và được xem là nghi thức chính của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Trên thuyền câu còn có cả những hình nhân thế mạng. Các hình nhân này được làm rất có hồn. Do đó, chỉ cần nhìn vào các hình nhân trên thuyền là thấy được cái khí thế oai hùng của cha ông chúng tôi lúc dong thuyền đi mở biển cách đây 400 năm”.

< Cụ Võ Hiển Đạt chuẩn bị mô hình thuyền câu và hình nhân thế mạng cho Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Chia tay cụ Đạt, chúng tôi đến nhà ông Phạm Thoại Tuyền, người được Biên ví như là một “nhà sử học” của đảo Lý Sơn. Ông Tuyền là hậu huệ đời thứ 5 của Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, người đã hy sinh trên quần đảo Hoàng Sa trong khi thực thi sứ mệnh của triều đình nhà Nguyễn đi cắm mốc chủ quyền và đo đạc thủy trình trên biển.

< Ngư dân Lý Sơn tiến hành nghi lễ thả thuyền câu.

Ngôi nhà ba gian đơn sơ của ông Tuyền treo đầy những bản đồ, hình ảnh và hiện vật về Hải đội Hoàng Sa và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ông kể cho chúng tôi nghe về lịch sử hình thành Hải đội Hoàng Sa và vai trò quan trọng của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa trong đời sống văn hóa, tâm linh của người dân Lý Sơn. Theo lời ông Tuyền, vua Minh Mạng (1791 – 1841) đã từng ra chỉ dụ, trong đó có câu “Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu” có nghĩa là “Đối với lãnh hải nước ta thì Hoàng Sa là cực kỳ quan trọng”. Còn người dân Lý Sơn lại có câu ca dao: “Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/Hoàng Sa mây nước bốn bề/Tháng 2 khao lề tế lính Hoàng Sa”. Ông Tuyền tự hào cho biết thêm: “Đối với người dân Lý Sơn chúng tôi Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa như là báu vật. Các anh dự lễ sẽ thấy rõ điều đó”.

Theo chân ông Phạm Thoại Tuyền, chúng tôi đến thắp hương ngôi mộ gió Chánh đội trưởng thủy quân suất đội của Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật. Giải thích về về sự hình thành các ngôi mộ gió trên đảo, ông Tuyền cho biết, ngày xưa vào khoảng tháng 2, các dân binh Hải đội Hoàng Sa lên đường đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, đến tầm tháng 8 mà không thấy trở về thì gia đình xem như đã hy sinh.

< Nghi lễ thả thuyền câu và hình nhân thế mạng xuống biển là nghi thức quan trọng nhất của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Để có mộ phần làm nơi hương khói, gia đình mời nhà sư lấy đất sét trên đỉnh núi Giếng Tiền, đất ở ngã ba đường, lòng đỏ trứng gà và cành dâu nặn thành hình hài tượng trưng rồi đem chôn. Nhiều thế hệ người dân Lý Sơn đã tham gia Hải đội Hoàng Sa có đi mà không về, nên trên đảo có hàng trăm ngôi mộ gió và hình nhân trên thuyền câu trong Lễ khao lề cũng được làm như thế.

Ngày khai hội Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, khi những hồi ốc u thổi rền vang ngân dài khắp đảo Lý Sơn, từng dòng người từ khắp nơi quy tụ về đình làng An Vĩnh. Ban thờ chính được đặt trang nghiêm trước sân đình và quay ra hướng biển. Các bô lão thuộc lục họ (tức 6 dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn) trang phục chỉnh tề, nghiêm cẩn tiến hành các nghi lễ để tưởng nhớ và tôn vinh Hải đội Hoàng Sa như: lễ cầu siêu, lễ chánh tế, lễ thả thuyền câu thế mạng lính Hoàng Sa...

Theo lời cụ Võ Hiển Đạt, xưa kia các bậc tiền nhân vâng mệnh triều đình đi cắm mốc và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Trùng dương cách trở, nhiều người chỉ đi mà không thấy về. Để tưởng nhớ những người đã nằm xuống, hàng năm, vào khoảng tháng Hai âm lịch, các tộc họ ở Lý Sơn đều tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Vì thế, họ tộc nào có người hy sinh ở Hoàng Sa cũng đều tổ chức Lễ khao lề thế lính. Dần dần, lễ thức này đã trở thành lễ thức chung của người dân Lý Sơn. Khao lề là lễ tế sống các dân binh với mục đích tôn vinh và tri ân những người lính dũng cảm, dám hy sinh thân mình vượt sóng ra Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Buổi tối, dưới ánh đèn vàng của Nhà thờ Chánh suất đội thủy quân Hải đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật, Biên đã kể cho chúng tôi nghe những dự định và hoài bão mong muốn được làm một cái gì đó thật ý nghĩa để tri ân công đức các bậc tiền nhân. Biên tâm sự: “Em đã thu nhập được khá nhiều tư liệu, sau này ra trường em mơ ước sẽ làm được một bộ phim tái hiện lại hành trình bi hùng của Hải đội Hoàng Sa trong quá trình đi thực thi chủ quyền biển đảo của mình”.

< Hội đua thuyền tứ linh thể hiện tinh thần thượng võ của ngư dân Lý Sơn trong ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.

Lời tâm sự đầy nhiệt huyết của chàng trai trẻ và tiếng ốc u rền vang lẫn trong tiếng sóng biển vọng về như đưa tôi quay trở lại với thời quá khứ xa xôi, ở đó có câu chuyện bi tráng mang đậm chất sử thi về những người dân binh miền biển, những người đã hy sinh thân mình nằm lại giữa biển khơi để gìn giữ biển trời thiêng liêng của đất nước.
Xem thêm >

Theo Thông Thiện - Công Đạt (Báo Ảnh VN)
Du lịch, GO!

Lễ Căm Mường của người Lự

(DVO) - Trong đời sống tâm linh của người Lự, lễ Căm Mường “Kiêng Mường” đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được. Như thường lệ, lễ Căm Mường sẽ được tổ chức vào ngày 3.3 âm lịch hằng năm.

< Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ.

Người Lự có gần 5.000 nhân khẩu, chiếm 1,59% dân số toàn tỉnh Lai Châu; hiện đang sinh sống chủ yếu ở huyện Sìn Hồ và Tam Đường. Ở Lai Châu chỉ có duy nhất một nhóm Lự đen “Lừ đăm”, để phân biệt với nhóm Lự trắng “Lừ Khao” ở Trung Quốc.

< Theo truyền thống, mỗi gia đình cử một đại diện là nam giới tham gia lễ cúng bản. Thủ tục cúng lễ chia làm bốn phần là: lễ thỉnh Thần, lễ khẩn cầu, lễ Căm Mường và nghi lễ kết thúc.

Trong đời sống tâm linh của người Lự, lễ Căm Mường “Kiêng Mường” đóng một vai trò rất quan trọng, ẩn sâu trong đó là ý nghĩa nhân văn, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của mỗi bản mường người Lự, và đây cũng là dịp để họ cầu cho những điều may mắn sẽ đến với mọi gia đình trong năm tới.

< Lễ tế gắn với sự thành kính và ước nguyện tốt đẹp của dân bản.

Lễ Căm Mường mở đầu với phần lễ thỉnh thần, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ, nội dung này đề cập đến lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ Căm Mường và những người sẽ thụ lễ lần này.

< Phần lễ không có khèn, sáo, trống hay bất kì loại nhạc cụ nào, vì theo quan niệm của người Lự sẽ làm ảnh hưởng tới sự thần bí, linh thiêng khi thực hiện những nghi thức cúng lễ.

< Đây cũng là dịp các cô gái Lự lựa chọn những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất.

Căm Mường chính là lễ để bà con dân bản thể hiện lòng thành kính dâng tế lễ vật lên các vị thần. Khi phần lễ kết thúc là đến phần hội, mọi người trong bản sẽ cùng nhau múa, hát những bài dân ca truyền thống của dân tộc mình từ xa xưa để lại và cả những bài dân ca mới.

< Các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình.

< Cùng với các bài hát, trong lễ hội còn có các trò chơi như kéo co, đẩy gậy...

Các chàng trai, cô gái sẽ cùng nhau hát dao duyên đối đáp và chơi những trò chơi của tộc người Lự. Trong thực tế thì chính từ lễ hội này đã là cầu nối xe duyên cho biết bao chàng trai cô gái, để họ được sống bên nhau đến trọn đời.

< Tó cáy thể hiện sức mạnh của mỗi người. Trong cuộc đua vui nhộn này nếu ai thắng sẽ gặp may mắn trong năm tới. Vì vậy, thầy cả té nước cầu may, để gột rửa những điều không may mắn.

Bên cạnh những nét đẹp văn hóa của dân tộc Lự như: kiến trúc nhà sàn, nghề dệt, tục nhuộm răng đen… Lễ Căm Mường không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, gắn với giữ rừng cấm, rừng thiêng mà còn là sinh hoạt cộng đồng gắn kết dân tộc.

Tuần lễ “Đại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa Việt Nam tại Hà Nội đã tái hiện lễ hội Căm Mường của người Lự ở xã Nậm Tăm (Sìn Hồ).

Theo San Nguyễn (báo Dân Việt)
Du lịch, GO!