Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Chùa Thánh Duyên - Huế

(BTT) - Thánh Duyên là ngôi quốc tự có vị trí đẹp, nơi trời mây sông nước quyện hòa cùng phong cảnh Bụt. Chùa tọa lạc tại Túy Vân sơn, ngọn núi được vua Thiệu Trị xếp hàng thứ chín trong 20 cảnh đẹp của xứ Huế, thuộc phường Đông Am, tổng Diên Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên. Nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Khi trùng kiến chùa vào năm 1836, vua Minh Mạng đã dụ rằng: “Những danh lam thắng tích ta không có quyền để chúng lụi tàn, mất hết dấu tích, không lưu lại cho thế hệ mai sau. Huống gì quang cảnh nơi đây đều do Hoàng tổ của ta (Minh Vương Nguyễn Phúc Chu) vì triều đình, vì thần dân mà tạo dựng, nhằm mục đích khuyến khích mọi người tu tâm, tích thiện, tạo phước điền”.

Chùa được vua đặt tên là Thánh Duyên vì “Thánh tức thị Phật, Phật tức thị Thánh, hữu thị Thánh phương khai Phật pháp chi sùng thâm; duyên bổn thị nhân, nhân bổn thị duyên, hữu thị duyên nãi khuyếch thiện nhân chi quảng bị”. Chính vua Minh Mạng đã ngự chế câu đối ấy và cho lồng chép vào nội dung văn bia để khắc vào bia đá “Ngự chế Thánh Duyên tự chiêm lễ” vẫn còn ở chùa.

Kiến trúc chùa Thánh Duyên hài hòa với địa thế của ngọn núi nơi ngôi chùa tọa lạc. Bia đề tên núi “Túy Vân sơn” bắt đầu những bậc tam cấp lên chùa. Cổng tam quan dạng cổ lâu đặc trưng chùa Huế có thiết trí thờ Hộ pháp Vi Đà. Chính điện là tòa nhà ba gian hai chái, cao rộng và thoáng đãng. Phần mái được lợp ngói liệt theo kiểu trùng thiềm điệp ốc đặc trưng của Huế trang trí bằng cù giao, lưỡng long, vân hóa long tinh xảo.

Nội điện thờ Phật cùng nhiều vị hiền thánh thiện thần khác. Gian chính ở giữa thờ Tam Thế Phật: Quá khứ, hiện tại và vị lai; phía trước thấp hơn bàn thờ Phật là bàn thờ bài vị vua Minh Mạng. Hai bên có hai dãy sập để tôn trí thờ Thập Điện Minh Vương, mỗi bên gần sát vách thờ 5 tượng; tiếp đến vào phía trong thờ 2 dãy tượng Thập Bát La Hán, mỗi bên 9 tượng. Dãy bên trái có tượng Bồ Đề Đạt Ma tọa thiền, đối diện bên phải là tượng Địa Tạng ngồi trên con sư tử xanh. Phía sau chính điện là nhà tổ, thờ các thế hệ tăng cang và thập phương thiện tín của chùa.

Nằm giữa lưng chừng núi, cách chính điện khoảng chừng 50 mét là Đại Từ Các. Đây cũng là ngôi nhà rường nằm trong tổng thể kiến trúc theo hình thế núi: Chùa, gác, tháp. Sau khi trùng tu, các Đại Từ được chia làm 3 gian: Gian giữa phía trước thờ Phật (A Di Đà, Thích Ca Mâu Ni và Di Lặc), phía sau là pho tượng Chuẩn Đề Bồ Tát, gian bên phải thờ đức Quan Âm và gian bên trái thờ Bồ Tát Đại Thế Chí.

Công trình cao nhất nằm trong tổng thể kiến trúc chùa Thánh Duyên là tháp Điều Ngự hình khối tứ giác có 3 tầng, cao khoảng 13 mét. Điều Ngự là một trong mười danh xưng của Đức Phật nhưng Điều Ngự cũng có ý nghĩa là nơi để vua điều phục và chế ngự tâm. Khi tâm đã được chế ngự thì không có việc gì không làm được, đây chính là ý nghĩa của việc vua Minh Mạng cho dựng đình Tiến Sảng phía đằng sau tháp. Trên đỉnh tháp ngày xưa có dựng trụ đồng đặt pháp luân chuyển động theo gió, kèm theo hệ thống chuông lắc. Khi gió thổi pháp luân xoay, âm thanh của tiếng chuông sẽ vang vọng gần xa.

Là quốc tự nên sau khi được trùng tu dưới triều Minh Mạng, nhiều vị cao tăng đã được sắc cử làm tăng cang và trụ trì ở đây để lo Phật sự như Hòa thượng Liễu Đạo Chí Tâm, Hòa thượng Tánh Khoát Huệ Cảnh, Tánh Thông Nhất Trí, Hòa thượng Vĩnh Thừa, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Mật Hiển. Hiện nay Hòa thượng Hải Ấn giữ nhiệm vụ làm trụ trì chùa nhưng người đang sống và coi sóc công việc của ngôi tự lại là Đại đức Thích Minh Chính.

Sau một thời gian dài bị đồi phế, Thánh Duyên đã được Nhà nước và Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế trùng tu năm 2003 để trả lại vẻ đẹp vốn có cho ngôi chùa. Nhiều văn vật, pháp tự, pháp khí có giá trị như chuông đồng, bia đá và các bài thơ của các vị vua triều Nguyễn chạm trên vách đố bằng gỗ theo lối nhất thi nhất họa vẫn được bảo tồn và lưu giữ cẩn thận, đặc biệt là những pho tượng bằng tre hay bằng đồng rất có giá trị.

Trong số gần 70 pho tượng tại chùa, đáng chú ý hơn cả là bộ tượng Thập Bát La Hán bằng tre thếp vàng và bộ tượng Thập Bát La Hán bằng đồng xưa và lớn nhất Việt Nam được ghi vào sách Kỷ lục Việt Nam năm 2008.

Vào những thập niên đầu của thế kỉ 20, quốc tự Thánh Duyên đã từng là đạo tràng lớn của Giáo hội. Chùa một thời được Chư tôn đức trong sơn môn Tăng già Thừa Thiên dùng làm nơi tu học cho chư tăng vào các mùa An cư kiết hạ. Đến thời kỳ hội An Nam Phật học ra đời, khuôn hội Tịnh độ cũng đã được thành lập tại đây. Bỏ lại đằng sau sự huy hoàng của quá khứ, chùa Thánh Duyên ngày nay đang hòa mình vào đời sống dân dã của làng quê. Chùa vẫn là nơi du khách thập phương vãn cảnh dù đông hay hè, là nơi Phật tử lui tới cúng dường đức Phật và cũng là nơi nuôi dưỡng những tâm hồn trẻ thơ, giúp thế hệ tương lai của đất nước hướng thiện.

Đến chùa vào ngày Rằm hay mồng một, các em thanh thiếu niên quây quần bên thầy Thích Minh Chính vui chơi cũng như trong bữa cơm chay đạm bạc. “Nhìn thấy Phật ắt tâm hồn sẽ hướng Phật, để các em vui chơi và sinh hoạt ở chùa giúp các em tránh sa vào các trò chơi không tốt sau giờ học và cũng là phương cách nuôi dưỡng tâm hồn hướng thiện, giúp các em có ích cho cộng đồng, trở thành người tốt khi trưởng thành”, thầy Minh Chính chia sẻ.

Bỏ qua sự tĩnh lặng và uy nghiêm của một ngôi quốc tự, Thánh Duyên giờ đây gần gũi với người dân hơn bao giờ hết. Nó không xuất phát bởi vị trí nằm giữa xóm thôn hay là chốn viếng thăm quen thuộc của du khách thập phương mà bởi sự mở lòng vốn có của nhà Phật.

Theo Vinh Dự - Hoài Lương (Báo Tin Tức)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Di tích kiến trúc chùa Bửu Sơn (Q9)

(Q9TPHCM) - Chùa Bửu Sơn tọa lạc tạị số 341 đường Nguyễn Văn Tăng phường Long Thạnh Mỹ, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy nguồn tư liệu chính thống nào cho biết chùa được xây dựng từ bao giờ nhưng theo các sư cô (tu tại chùa) chùa được thành lập vào cuối thế kỷ XIX. Chùa có cùng thời với chùa Hội Sơn và Chùa Phước Tường. Chùa Bửu Sơn thuộc hệ phái Bắc Tông chi phái lâm tế dòng Liễu Quán. Vị sư trụ trì đầu tiên tại chùa là Hòa Thượng Thích Bửu Cảnh sau khi Hòa Thượng viên tịch chùa được giao lại cho hòa thượng Huệ Minh trông coi, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì chùa bị bỏ hoang.



Năm 1986, chùa Bửu Sơn được giáo hội Phật Giáo huyện Thủ Đức giao cho ba vị ni sư tiếp quản trông coi. Giữ vai trò trụ trì là ni sư Thích Nữ Diệu Lành; các vị được thờ chính trong chùa Bửu Sơn: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; Quán Thế Âm; Địa Tạng Vương Bồ Tát; Văn Thù Bồ Tát; Phổ Hiền Bồ Tát; Đại Thế Chí Bồ Tát; Thập Điện Diêm Vương; Di Lặc Bồ Tát; Địa Mẫu Nương Nương; Hộ Pháp; Tiêu Diện Đại Sĩ; Tổ Sư Đạt Ma.

Chùa Bửu Sơn được xây dựng trên một khuôn viên rộng khoảng 8000m². Cổng tam quan chùa được xây dựng kiên cố giữa các trụ có có mái giả lợp ngói xanh, giữa mái trang trí bánh xe pháp luân cách điệu hình bông hoa, các trụ cổng được ốp đá và trang trí búp sen trên đầu các trụ. Năm 1986 chùa xuống cấp nặng và đã được trùng tu lại theo giống kiến trúc ban đầu. Mặt tiền chùa, các cửa vòm được xây theo kiểu kiến trúc của Pháp, đây là kiểu mặt tiền phổ biến rất phổ biến của các chùa vùng Thủ Đức xưa. Mái chùa lợp ngói vảy cá, trên đường bờ nóc mái trang trí tượng đầu rồng đội bánh xe pháp luân, đường bờ dải trang trí tượng rồng uốn lượn trong mây đầu đao trang trí tượng chim phượng. Cửa chùa được làm đơn giản không trang trí hoa văn cầu kỳ, ba cửa gỗ lớn rất chắc chắn được sơn màu nâu sậm tạo thêm vẻ u tịch cho không gian thờ cúng bên trong.

Chùa Bửu Sơn gồm các đơn vị kiến trúc: Tiền điện là nhà ba gian, cột gỗ mái lợp ngói vảy cá đặt giữa tiền điện là lư hương lớn bằng đá, khám thờ tiêu diện đai sĩ và hộ pháp được bày trí đăng đối với nhau. Tượng hai vị được làm bằng thạch cao đặt trên khám thờ ốp gạch men. Trống và chuông được đặt đối diện nhau ở hai góc của tiền điện.

Chính điện chùa Bửu Sơn được xây dựng theo kiểu tứ trụ: giữa chính điện có bốn cột gỗ tròn lớn đỡ lấy bộ vì kèo bằng gỗ mở rộng ra bốn phía. Các kèo, xà, cột được lắp ghép lại với nhau bởi các mộng giống kỹ thuật làm nhà rường của người Nam Bộ xưa. Chính điện và tổ đường đối ứng với nhau qua vách ngăn giữa bàn Tam Bảo và bàn thờ tổ. Chính điện có bàn thờ Phật Thích Ca, tổ đường có thờ các vị tổ sư của giáo phái và các đời trụ trì chùa. Chạy dọc theo hai bên chính điện-  tổ đường là hành lang bên trái và bên phải, có các bàn thờ: bàn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, bàn thờ Thập Điện Diêm Vương, bàn thờ Mẹ Sanh, Địa Tạng Vương Bồ Tát, đèn Dược Sư, bàn thờ 5 vị Bồ Tát.

Điện thờ phật thích ca được trang trí bao lam chạm lộng tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng và dây lá, hoa. Ở hai cột bên trang trí đôi câu đối bằng gỗ hình lòng máng, xung quanh chạm khắc hoa văn Kỷ Hà và Dơi (biểu tượng của điềm phúc, điềm tốt lành). Bàn tam bảo, bậc trên cao là tượng Phật Thích Ca tọa thiền trên tòa sen, tay bắt ấn, hình vẽ cây bồ đề trên bức tường phía sau tương Phật tạo cho người viếng cảnh chùa có cảm giác Phật đang thiền định dưới bóng cây. Bậc tiếp theo của bàn Tam Bảo là bộ tượng Phật Tam Tôn: A Di Đà, Quán Thế Am Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Phía trước tượng A Di Đà có tượng Thích Ca sơ sinh và ngoài cùng của bàn tam bảo có bảy tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Phật bằng gốm men nhiều màu. Trước bàn Tam Bảo có hai bàn hương án hình cuốn thư, bằng gỗ.

Dọc theo hành lang bên trái chính điện có 3 bàn thờ trong cùng là bàn thờ Phật Quán Thế Âm, hàng trên có tượng Phật đứng trên tòa sen, tay trái bắt ấn, tay phải nâng bình cam lồ. Tầng thứ hai có tượng phật Bà tọa trên tòa sen, hai tay bắt ấn đỡ lấy bình cam lồ trước ngực.

Tiếp theo là bàn thờ Thập Điện Diêm Vương. Bộ tượng Diêm Vương làm bằng gỗ mít, hiện nay còn được 5 tượng Diêm Vương , 2 tượng Phán Quan, và 2 người Hầu. tượng 5 vị Diêm Vương ngồi trên ngai, 4 vị tay cầm hốt chấp, 1vị tay cầm bút, tượng Phán Quan và người Hầu đứng trên bục. Đây là những hiện vật quý báu của chùa Bửu Sơn có cùng niên đại khi chùa được xây dựng. Bên cạnh bàn thờ Thập Điện Diêm Vương là bàn thờ Mẹ Sanh

Dọc theo hành lang bên phải chính điện, phía trong cùng là bàn thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát, kế đến là cây đèn Dược Sư bằng gỗ, tượng Phật, tượng rồng ẩn trong mây, tượng Lân được chạm khắc khéo léo sinh động. Đối xứng với bàn thờ Mẹ Sanh là bàn thờ 5 vị đạo hạnh trong thuyết nhà Phật gồm: Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đang cưỡi trên lưng các linh thú. Đối ứng với bàn Tam Bảo qua vách ngăn cách chính điện là tổ đường, là nơi thờ Tổ Sư của giáo phái và các đời trụ trì chùa. Ở vách tường phía sau bàn Tam Bảo treo bức tranh vẻ Tổ Sư Đạt Ma.

Tiếp sau tổ đường là khu trai đường là khu nhà được xây dựng mới, mái lợp ngói đây là nơi dùng để tiếp khách và là nơi tu học của các sư cô. Ở hai vách trai đường là nơi để di ảnh của Phật tử. Phía cuối trai đường là dãy phòng nghỉ của các ni sư. Mộ tháp ba tầng của Hòa Thượng Thích Bửu Cảnh được xây dựng ở khu vực bên trái chùa, mộ có kiến trúc hình lục giác, các tầng nhỏ dần lên trên các mặt bao quanh không trang trí hoa văn mà sơn màu vàng, các đường chỉ, điểm giao giữa các mặt và các đường chỉ làm điểm nhấn giữa  các tầng đều được sơn màu vàng đậm. Phía trước mộ có bia đá hoa cương màu đen. Bên cạnh mộ tháp là ngôi mộ được xây vào đầu thế kỷ XX.

Tiếp nối khu vực mộ táng là khu an cốt đường, là nơi để các hủ cốt của bá tánh, Phật tử. Hiện nay hiện vật trong chùa Bửu Sơn đều là những hiện vật đã được làm mới, làm bằng thạch cao, giá trị nhất là bộ tượng Diêm Vương bằng gỗ mít và các hoành phi liễn đối có giá trị về nội dung, giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm được chạm khắc…Để gìn giữ tốt các hiện vật thuộc di tích cần có sự thống kê số lượng, phân loại theo chất liệu từ đó đề ra những phương pháp bảo quản, phát huy giá trị hiện vật một cách phù hợp nhất.

Hàng năm ở chùa Bửu Sơn đều tổ chức các nghi lễ trang nghiêm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của đông đảo Phật tử và bá tánh đến chiêm bái như: Lễ Phật đản, Lễ Vu Lan, Lễ An Cư Kiết Hạ. Bên cạnh đó các ni sư còn tổ chức các lễ kỵ húy trong năm để tưởng nhớ các vị tổ sư.

Chùa Bửu Sơn với bề dày lịch sử khoảng 150 năm trong quá trình tồn tại lâu dài đó kiến trúc chùa nay đã có thay đổi song vẫn giữ được nét cổ kính, u tịch của chốn thanh tịnh Phật tọa thiền. Chùa vẫn là nơi hoạt động tôn giáo thu hút không ít Phật tử, bá tánh khắp nơi đến thăm viếng, chiêm bái vào các ngày lễ lớn, ngày kỵ húy của các hòa thượng đã viên tịch. Điều này cho thấy sự gắn bó chặt chẽ giữa đạo và đời luôn răng dạy con người sống phải có tâm hướng thiện, sống và hưởng hôm nay phải luôn phải nhớ đến công đức của nguời đã có công khai sơn, tu bổ, gìn giữ chùa đó là truyền thống “ uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của nhân dân ta bao đời nay.

Chùa Bửu Sơn tuy đã được trùng tu lại vào thế kỷ XX, nhưng ni sư trụ trì đã cho trùng tu theo hình dáng kiến trúc trước đây, chính điện được làm theo kiểu nhà tứ trụ một kiểu kiến trúc rất phổ biến của đình chùa vùng Nam Bộ xưa. Các cột, kèo, đòn tay, trính, xuyên đều làm bằng gỗ, không chạm khắc rồng mây hay lá hoa nhưng toát lên vẻ đơn sơ mộc mạc chúng được ghép lại với nhau bởi các mộng, tạo nên một bộ khung kiến trúc vững chắc đỡ lấy bộ mái ngói với những tượng trang trí hoành tráng mang đậm mô típ Phật giáo.

Ngày nay số tượng quí trong chùa đã mất mát nhiều chỉ còn một số tượng Diêm Vương, Tượng Phán Quan, tượng Người Hầu, tượng Mẹ Sanh, tượng Giám Trai bằng gỗ mít có giá trị điêu khắc, giá trị về niên đại. Một số tượng bằng thạch cao như tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, bộ tượng Phật Tam Tôn (Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát), tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát được làm từ những năm 60,70 của thế kỷ XX cũng góp phần tô điểm thêm nét đẹp của chùa. Các hiện vật như bao lam, hoành phi, câu đối, bài vị cũng là những tác phẩm điêu khắc sắc xảo, phản ánh được kỹ thuật chạm khắc gỗ của những người thợ vùng Nam Bộ vào nữa đầu thế kỷ XX.

Chùa Bửu Sơn là ngôi chùa có giá trị về kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu cho kiến trúc của các đình, chùa tại Nam bộ. Vì vậy chùa đã được Ủy ban nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh kí quyết định xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo quyết định số 2209/QĐ-UBND ngày 28/4/2012.

Theo Web Quận 9 - TP HCM, ảnh Rongcoithit (Panoramio)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Chùa Chén Kiểu ở Sóc Trăng

(TBKTSG Online) - Du khách đến tham quan thành phố Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng) đều tìm đến viếng ba ngôi chùa nổi tiếng là điểm đến du lịch, gồm chùa Dơi, chùa Đất Sét và chùa Sà Lôn. Chùa Sà Lôn (còn có tên gọi là chùa Chén Kiểu) là ngôi chùa thuộc hệ phái Phật giáo tiểu thừa (Nam tông), thuộc xã Đại Tâm (huyện Mỹ Xuyên), cách thành phố Sóc Trăng hơn 10 cây số bên quốc lộ 1 hướng đi Bạc Liêu.

Nguyên tiếng Khmer của chùa Sà Lôn là Wath Sro Loun, hay Wath Chro Luong, bắt nguồn từ tên con rạch Chro Luong chạy dọc theo đường làng Xoài Cả Nả (*), trước chùa. Từ tên Wath Sro Loun người ta gọi gọn còn Sro Loun, nhưng để dễ phát âm và dễ nhớ, người ta gọi trại theo tiếng Việt là Sà Lôn.


< Chùa Chén Kiểu ở Sóc Trăng.

Chùa Sà Lôn tọa lạc trong khuôn viên rộng lớn với những hàng cây sao dầu thẳng tắp vút ngọn lên trời xanh. Chùa Sà Lôn được xây dựng vào năm 1815 với vật liệu và kiến trúc đơn sơ. Về sau, chùa được tu bổ vài lần, đặc biệt, khi bị hư hại nặng vì chiến tranh, chùa Sà Lôn mới được dần xây dựng kiên cố, bắt đầu từ năm 1969.

Nói dần xây dựng là vì chùa được xây dựng nhiều đợt, có tiền “con sóc” (Phật tử trong sóc) cúng dường tới đâu thì xây tới đó. Chính vì vấn đề tài chánh một phần, nên vào năm 1980, khi xây xong phần thô, người ta đã nghĩ ra sáng kiến dùng miểng chén dĩa kiểu hư, bể do con sóc gom lại gắn lên trang trí tường, thay vì tô trát và sơn màu. Từ đó tên chùa Sà Lôn dần được gọi là chùa Chén Kiểu.


< Tường xây gạch được ốp mảnh vỡ chén, đĩa sứ.

Cổng chùa Chén Kiểu có hai con sư tử đá trên bệ cao hướng ra lộ. Trên cổng xây ba ngôi tháp trang trí theo kiến trúc truyền thống của người Khmer Nam bộ. Tháp chính ở giữa, bên trong lồng pho tượng Phật tọa thiền uy nghi. Hai tháp hai bên thấp hơn tháp chính. Thành cổng có dòng chữ tên chùa Sà Lôn bằng chữ Khmer và chữ Việt.

Chánh điện nằm bên trái cổng vào. Chánh điện có ba mái hình chóp. Mái cao nhất hình tam giác, hai đầu đao mỗi bên cong vút như vành trăng khuyết. Mái chánh điện được trang trí nhiều họa tiết màu sắc đẹp mắt. Tường rào và tường chánh điện dán gạch men nhiều màu đẹp đẽ. Chánh điện nằm trên 2 lần nền với 2 bậc cấp. Hai bên đầu bậc cấp nền chính có hai cột đá hình vuông. Đầu mỗi cột đá có tượng đá kỳ lân. Mặt chính và mặt hông mỗi cột đá đều có khắc hai hàng chữ Hán. Nền chánh điện lót gạch bông.


< Bộ bàn ghế cẩm thạch của Công tử Bạc Liêu và chân dung Công tử Bạc Liêu trên tường.

Trong chánh điện thờ chính Phật Thích Ca, còn có một số tượng Phật nhiều kích cỡ với nhiều tư thế. Tất cả đều nhìn về hướng đông, nhằm ban ơn phúc cho phật tử. Mái chánh điện được chống đỡ bằng 16 hàng cột lớn, ốp gạch men sáng bóng. Hai bên tường chánh điện là những bích họa miêu tả Phật tích.

Trước chánh điện, cách con đường, là cột cờ với hình tượng Rắn thần Nagar xòe 5 đầu, nhắc điển tích Rắn thần che mưa cho Phật Thích Ca khi ngài tọa thiền. Bao quanh cột cờ là hồ sen. Ngoài ra, chùa còn có một tượng Phật nằm khổng lồ... Chùa Sà Lôn đuợc công nhận di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh vào năm 2012.


< Chiếc giường mùa nóng, làm bằng gỗ giáng hương, mặt giường lót cẩm thạch.

Chùa Sà Lôn, hay chùa Chén Kiểu, là nét văn hóa kiến trúc độc đáo của đồng bào Khmer Đại Tâm, và cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nét độc đáo khác là vào cổng chùa, bên phải có một dãy nhà ngang, hai tầng. Tầng trên, có hai căn phòng, là nơi lưu giữ một số đồ gỗ của “Công tử Bạc Liêu”, Trần Trinh Huy (1900-1974). Ông Trần Văn Hai, 62 tuổi, là thư ký của ban quản lý chùa, cho biết chùa đã có vài lần mua lại một số đồ gia dụng của gia đình điền chủ giàu có xứ Bạc Liêu. Tất cả cổ vật nầy đều được chạm trổ, cẩn xà cừ tỉ mỉ, có thể nói là những tác phẩm chạm khắc gỗ quý.

< Chiếc giường mùa đông của Công tử Bạc Liêu, làm bằng gỗ lệ chi (cây vải).

Lần thứ nhất vào năm 1948, nhà chùa mua bộ bàn tròn, mặt cẩm thạch nguyên miếng, giá 1.200 đồng. Năm 1952 mua thêm bộ bàn dài, gỗ đỏ nguyên miếng (1,3m x 2,0m), giá 4.000 đồng. Năm 1956, mua chiếc giường nóng (mùa hè), làm bằng gỗ giáng hương, giá 9.500 đồng. Năm 1960, mua chiếc giường lạnh (mùa đông), làm bằng gỗ lệ chi (cây vải), giá 5.000 đồng. Tổng cộng bốn cổ vật nầy là 19.700 đồng. Ông Hai cho biết, tiền thời ấy, 1 đồng mua được 24 giạ lúa.

(*) “Xoài Cả Nả, tên gọi làm vậy vì xóm nầy khi xưa có trồng rất nhiều xoài và ai ai khi đến đây khi trở về nhà đều mang theo cả giỏ, cả nả xoài. Tiếng Thổ gọi làng nầy là Xài Chụm (Xoai Chrum) phiên âm ra Việt ngữ đời Minh Mạng là làng Tài Sum, về sau hai làng kế cận Tài Sum và Trà Tâm (Xà Tim) sát nhập lại và lấy tên mới là Đại Tâm như ngày nay đã biết” (Theo “Tuyển tập Vương Hồng Sển”, NXB Văn Học, 2002).

Theo Cát Lộc (The Saigon Times)
Du lịch, GO!

Chùa Sà Lôn - nét đặc sắc của văn hóa Kh’mer Nam bộ

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

Khám phá ngọn núi thấp nhất nước

'Thất Sơn huyền bí' là cụm từ người xưa thường đề cập khi nói về vùng bán sơn địa tỉnh An Giang. Ngày nay sự huyền bí ấy vẫn còn phủ trùm nhiều ngọn núi của vùng biên địa nầy. Trong đó đậm màu huyền thoại nhất có lẽ là núi Nước (Thủy Đài Sơn), ngọn núi thấp nhất nước vì chỉ cao 54m với chu vi 1.070m.

Núi Nước nằm giữa những cánh đồng rộng lớn, cách tỉnh lộ 955B và núi Tượng khoảng 600 mét, thuộc địa phận thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Thủy Đài Sơn gắn liền với những truyền thuyết trong dân gian về phong thủy của đất phương Nam.

< Hoàng hôn bên núi Nước.

Gọi là núi Nước vì vào mùa nước nổi, cánh đồng bao quanh núi ngập tràn nước. Giữa màu nước đỏ phù sa, núi nhô cao lên như một đảo giữa biển.

Theo học giả Nguyễn Văn Hầu, núi Nước (Thủy Đài Sơn) cùng với núi Két (Anh Vũ Sơn), núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn), núi Dài (Ngọa Long Sơn), núi Tô (Phụng Hoàng Sơn) và núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) tạo thành Thất Sơn. Cùng 6 ngọn núi kia, núi Nước cũng đượm đầy màu sắc huyền bí, siêu nhiên.

Bay bổng trí tưởng tượng

Bên chân núi Nước là Linh Bửu Tự. Các ông thủ lễ (tức là những người luân phiên trực tại chùa mỗi ngày) cho biết chùa được Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831-1890, tên thật Ngô Viện, còn có tên Ngô Tự Lợi, giáo chủ đạo Hiếu Ân Hiếu Nghĩa) dựng năm 1884.

Là ngôi chùa của vị chân tu yêu nước nên đến núi Nước lúc nào du khách cũng được các ông thủ lễ vừa hướng dẫn tham quan vừa kể nhiều huyền thoại, có huyền thoại hoang đường nhưng thấm đẫm tình dân tộc.

< Trên núi Nước nhìn xuống cánh đồng bao là, phía xa là Núi Dài (Ngọa Long Sơn).

Núi Nước thật đẹp như cảnh tiên nơi hạ giới. Đến đây, khách sẽ bái phục bàn tay thiên nhiên tài hoa đã khắc tạc đá thành những hình ảnh đơn sơ, tạo ấn tượng tâm linh kỳ bí. Hông trái Linh Bửu Tự là hòn đá khổng lồ như trái xoài rụng, có tên Trứng Đá. Còn Miệng Bà Chằn là cục đá hình ô-val, không có mắt mũi, chỉ có cái miệng to. Đá Con Cóc dáng lom khom như cóc nhảy.

< Rùa đá trên đỉnh Thủy Đài Sơn.

Một vách núi có vết khuyết giống bàn chân giẫm, thủ lễ Nguyễn Văn Đổng bảo đây là Bàn Chân Tiên. Rồi ông ngâm nga: "Bàn chân trên đá còn in dấu/Chứng tỏ Phật Tiên đã xuống trần". Trí tưởng tượng được nhấn cao hơn tại Miếu Cô Năm – người tu tại đây rồi mất khoảng 40 năm trước.

Trong hang miếu nhỏ hẹp có chiếc Võng Cô Năm nằm khi xưa. Võng là tảng đá dẹp cong hình chiếc xuồng. Ngoài miếu có hai vết lõm gọi Dấu Tiên Quỳ.


< Trứng đá Thủy Đài Sơn.

Sân Tiên là tảng đá trên cao nhứt núi, rộng khoảng 20m2. Đứng nơi nầy nhìn trước mặt phong cảnh vừa hùng vĩ với núi non trùng điệp, vừa lãng mạn với ruộng vườn xanh mướt, lẫn trong đó là những ngôi nhà nông thôn xinh xắn, thanh bình, khách có cảm giác như đang phiêu diêu trên ngàn mây. Đáng nói là núi chỉ toàn đá tảng to lớn, vậy mà nơi nào có kẽ hở là có bóng cây cổ thụ.

Huyền thoại... dễ thương

< Cổ thụ trên Núi Nước.

Bà Phạm Thị Ê (73 tuổi) hào hứng chỉ một tảng đá, nói: 'Nỏ Thần Cung của An Dương Vương'. Bà kể, khi ngai vàng bị Thục Phán chiếm, An Dương Vương chạy tới núi Nước, lúc bấy giờ là hòn đảo giữa biển thì cùng đường. Biết công chúa phản bội, vua chém đầu nàng, liệng cây búa. Vách núi còn dấu búa xưa... Bên trong một hõm đá có tượng con rùa xây bằng đá núi và xi măng nổi cao trên một bệ đá.

Tương truyền, thuở xa xưa có người chôn sâu trụ đá khắc chữ Tàu cốt trấn ếm long mạch. Ngô Lợi biết cho đào lên, phá hủy rồi cho xây con rùa nầy. Người ta gọi đó là thần Kim Quy.

Mùa nắng hồ khô rang. Nhưng mùa mưa, hồ lúc nào cũng có nước. Đặc biệt có cả nước lớn nước ròng. Nhìn xuống chân núi, cánh đồng xanh mướt lúa, có chiếc cầu cây bắc ngang đẹp như tranh. Đầu cầu có tảng đá lớn có hình hai con voi. Bà Ê bảo đó là voi thần của Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, còn gọi Cục Đá Ông Tượng.

Núi Nước là một trong 37 ngọn núi thuộc các huyện: Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, và thị xã Châu Đốc của tỉnh An Giang. Là ngọn núi thấp nhất nước vì như hòn non bộ nhưng nếu được quy hoạch, quảng bá: núi Nước sẽ là trọng điểm du lịch An Giang vì leo núi không hề mệt lại được nghe kể nhiều huyền tích dẫu hoang đường nhưng thấm đẫm tự tình dân tộc.

Theo Cúc Tần (báo Cần Thơ) + internet
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Chùa Đậu - Hà Tây

(PNO) - Chùa Đậu toạ lạc ở cuối làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 24 km về phía nam. Chùa thờ bà Đậu hay nữ thần Pháp Vũ trong hệ thống Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) nên còn gọi là Pháp Vũ Tự.

Ngoài những ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội như Trấn Quốc, Quán Sứ, Quan Thánh, phủ Tây Hồ… các tỉnh lân cận Hà Nội đều là nơi lưu giữ nhiều chứng tích của sự phát triển Phật Giáo ở Việt Nam qua nhiều ngôi chùa cổ: Bắc Ninh có chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích …Hà Nam có đền Trúc, chùa Bà Đanh…Hà Tây nổi tiếng với chùa Hương, chùa Tây Phương, chùa Thầy ... Đặc biệt là Chùa Đậu.

< Chùa Đậu được phong tặng là "Đệ nhất đại danh lam".

Trong cuốn sách bằng đồng có từ thời Sĩ Nhiếp đầu thế kỷ thứ III (năm 200 - 210) hiện còn cất giữ tại Chùa, có ghi rõ sự tích nàng Man Nương và Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam. Vì vậy, chùa còn có tên gọi khác là chùa Vua, chùa Bà.

Cũng theo "Sách đồng", chùa Đậu được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, cách đây gần 2000 năm. Chùa đã được nhiều đời vua chúa sau đó sửa chữa, tôn tạo. Sử sách ghi lại, các bậc vua chúa khi đến đây lễ bái, cầu an đều rất linh ứng nên ngày xưa, chùa Đậu được phong tặng là "Đệ nhất đại danh lam".

Chùa Đậu kiến trúc theo kiểu "nội công, ngoại quốc", "tiền Phật, hậu thánh" theo cấu trúc hệ thống tứ pháp nhà Phật. Nghệ thuật kiến trúc của chùa có nhiều nét độc đáo, đặc trưng của nền nghệ thuật dân gian hưng thịnh vào thế kỷ 17. Ngôi chính điện từ đời Lê, mái lợp ngói mũi hài, các cột, xà đều chạm rồng; những bệ đá chân cột chạm hoa sen, bộ cửa tám cánh đều chạm tứ linh, tứ quý, sơn son, thếp vàng...

Năm 1947, những công trình quý báu này bị thực dân Pháp phá hoại, đốt cháy. Tuy nhiên, vẫn còn một số điêu khắc giá trị ở gác chuông Tam quan và Hộ tiền đường, chạm trổ tiên nữ cưỡi rồng, chàng trai cưỡi hổ... rất sống động.

< Tượng La Hán chùa Đậu.

Ngoài ra còn có một số đồ thờ cổ có giá trị như đôi rồng đá (đời Trần), gạch (đời Mạc), sách đồng (đời Lê) và khánh, chuông…Tam quan chùa đồng thời là gác chuông hai tầng tám mái. Tầng trên treo quả đại hồng chung đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) đời Tây Sơn.

Đặc biệt, chùa Đậu là nơi lưu giữ tượng táng của hai nhà sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, đặt trong hai am thờ phía sau chùa. Ngôi am gạch nơi nhà sư Vũ Khắc Minh nhập thất vẫn còn khá nguyên vẹn.

Tương truyền 2 vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường là người thôn Gia Phúc, sống vào đầu và giữa thế kỷ XVII, kế tiếp nhau trụ trì Chùa Đậu. Theo di chúc của các vị thiền sư: "Ta vào nhập thất 100 ngày tụng kinh niệm Phật, sau đó xác thân sẽ được giữ nguyên". Hết 100 ngày các Phật tử mở cửa am, thấy thiền sư vẫn ngồi theo thế nhập thiền và có mùi thơm. Qua vài chục năm áo vải bị ẩm, rơi rụng. Khi đó thiền sư chỉ còn da bọc xương nên các thiện tín đã mặc cho ông một lớp áo bằng sơn ta.

Thi hài của hai thiền sư là hiện vật lịch sử quý hiếm vì họ đã để lại Toàn thân Xá lợi. Xá lợi đốt không cháy, ngâm trong nước không tan, không bị không khí, thời gian bào mòn. Trên thế giới, rất ít các pho tượng để lại Toàn thân Xá lợi ngoài một vài nơi như Ấn Độ, Tây Tạng, Nhật Bản, Trung Quốc…

Theo Giao Thủy (Báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Thới Sơn, điểm đến mới ở An Giang

(DNSG) - Suốt một thời gian dài, làng Thới Sơn của huyện Tịnh Biên - một trong những cửa ngõ dẫn vào vùng Bảy Núi, An Giang bị coi là chốn “thâm sơn cùng cốc” do vị trí xa xôi.
Chỉ mấy năm nay, nơi đây mới bắt đầu thu hút khách du lịch nhờ những nét văn hóa thú vị.

< Phong cảnh vùng Bảy Núi.

Trước khi đến Thới Sơn, chúng tôi nghỉ chân tại thị trấn Nhà Bàng. Huyện lỵ của Tịnh Biên phát triển khá nhanh trong thời gian qua. Tiếc là mật độ cây xanh đã giảm xuống nhường chỗ cho nhà cửa, phố xá mới xây dựng.

May sao, đi qua dãy phố nằm sát chân núi Trà Sư, mùi thảo dược thơm dịu vẫn còn phảng phất. Từ lâu, dãy phố này đã nổi tiếng khắp vùng bởi nguồn dược liệu phong phú do người địa phương khai thác từ dãy Thất Sơn. Trong vô số những thứ mà người An Giang gọi là “thuốc núi” đó có cây bạch hoa thảo. Thứ này nấu thành nước uống sẽ có mùi thơm và giúp mát gan.

Từ thị trấn Nhà Bàng tiếp tục rẽ sang đường tỉnh 948 chưa đầy cây số là tới cổng đình Thới Sơn uy nghiêm. Cổng đình mở ra nhiều di tích gắn với lịch sử mở đất như chùa Thới Sơn, đình Thới Sơn, chùa Phước Điền. Một trăm năm trước đây, vùng Bảy Núi vẫn còn là chốn rừng thiêng nước độc gây khiếp sợ cho bao người. Thế nhưng nơi đây cũng đã thu hút nhiều đạo sĩ, nhiều cao tăng đến hành đạo.

Thới Sơn là do giáo chủ Đoàn Minh Huyên, người sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương quy tụ tín đồ khai phá đất để canh tác và tu tập. Những năm tháng chiến đấu với thú dữ và rừng hoang của người xưa đã tạo nên xóm làng trù phú cùng nhiều kiến trúc tôn nghiêm. Khuôn viên chùa Phước Điền có diện tích rộng lớn, chính điện mang nét đẹp cổ xưa.

Chùa Thới Sơn cũng tọa lạc trên một khuôn viên rộng có nhiều cây xanh và đã được xây dựng kiên cố, quy mô. Đình Thới Sơn thì có lối kiến trúc cổ lầu, ba bộ nóc, mái nhị cấp, lợp ngói Phú Hữu.

Nội thất đình trang trí rực rỡ, trước hương án có cặp hạc đứng trên lưng quy chầu thần. Hai bên tả - hữu bàn thờ đối xứng: Tiền hiền - Hậu hiền, có cả chỗ để diễn tuồng hát bội trình thần vào các ngày đại lễ. Ngoài cổng đình là một hồ nước rộng chứa nước sinh hoạt cho cả vùng.

Gần bên cụm đình chùa xưa là Anh Vũ sơn, hay còn gọi là núi Két cũng mới được đưa vào làm du lịch mấy năm gần đây. Ở độ cao khoảng một trăm mét, bên vách phía tây gần trên đỉnh có một tảng đá khổng lồ nằm nhô ra, theo sự mường tượng của nhiều người, nó gần giống mỏ chim két, vì vậy mà người xưa gọi đây là núi Két.

Đường lên đỉnh núi Két dài khoảng 600 mét, được xây bậc thang và đều có hành lang an toàn. Đi dần lên núi có các địa điểm đáng tham quan như: sân Tiên, giếng Tiên, điện Chư Thần, điện Phật Thầy, điện Phật Mẫu...
Mặc dù núi Két chỉ cao 225 mét nhưng con đường lên núi có nhiều dốc thẳng. Người đi phải chinh phục nhiều bậc thang bằng đá, vượt qua nhiều đoạn chênh vênh. Ở độ cao 100 mét là mõm ông Két, nơi vách đá cheo leo nhưng được nhà đầu tư xây dựng một sân rộng để vừa ngắm cảnh, vừa làm điểm dừng chân nghỉ mệt.

Sau lưng mõm ông Két là điện thờ chư vị Năm Non Bảy Núi, những người có công khai khẩn vùng Thất Sơn. Lên đến đỉnh núi, không khí se se lạnh và những cơn gió lồng lộng làm người ta thật sảng khoái.

Sung sướng nhất là khoảnh khắc phóng tầm mắt xuống cả vùng đất Tịnh Biên phía dưới. Nhìn xóm làng trù phú, xa xa là ruộng đồng bạt ngàn với những hàng thốt nốt in trên nền trời cao xanh lồng lộng rồi nghĩ về thời mở đất khai hoang của người xưa, ai nấy không khỏi thấy bồi hồi.

Theo Vũ Chuẩn (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Lễ hội dòng sông

(TTO) - Đúng là lễ hội của dòng sông, vị nữ thần được cư dân trong vùng thờ phụng, cúng bái theo lệ trăm năm xưa mang tên của dòng sông: Thu Bồn. Và còn thêm những lễ hội khác, tất cả là để vinh danh công đức của những bậc thần nhân đối với cư dân, cho họ thêm gắn bó với dòng sông xứ sở...

Lễ hội bà Thu Bồn

“Năm nào cũng vậy, cứ qua tết là dân làng Thu Bồn mình bắt đầu lo. Nhưng nói vậy chứ được lo cho lễ hội dân mình vui mừng lắm. Lễ là chỗ dựa tâm linh của dân làng mình, của người dân vùng Thu Bồn, còn hội là niềm vui chung của không biết bao nhiêu người...”, dù lễ hội bà Thu Bồn qua đã hơn năm tháng nhưng ông Thái Lịch - thành viên trong ban tế lễ lăng bà Thu Bồn - vẫn còn lộ niềm vui khi nói.

Lễ hội bà Thu Bồn là lễ hội của dòng sông. Cũng như thời trước, những người làm nghề sông nước ở xa như Huế, Đà Nẵng nay cũng mang lễ đến viếng Bà. Còn người vùng sông nước Thu Bồn, người các nơi trong tỉnh đến dự thì đông vô kể. Lễ hội kéo dài từ ngày 11 đến chiều 12-2 âm lịch. Có rất nhiều trò vui chơi, giải trí nhưng hào hứng, sôi nổi hơn hết là màn đua ghe trên sông Thu Bồn giữa nhiều đội ghe trong tỉnh, ngoài tỉnh...

Những người có tuổi tác ở làng Thu Bồn (xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên) - ngôi làng sát sông kề núi - nói làng của họ được mang tên dòng sông, được nhiều nơi biết đến là nhờ có lăng mộ cũng như lễ hội bà Thu Bồn. Họ kể rằng bà Thu Bồn là vị thần nhân, vốn là nữ tướng người Chăm. Trong một lần giao tranh, quân bà thất trận phải chạy, do mái tóc quá dài bị gió xõa làm quấn vào cây, bà bị ngã khỏi bành voi và bị đối phương giết chết bên làng Thu Bồn.

Sau khi bà mất, dân làng đem chôn bà bên làng và lập lăng thờ tự, kèm theo là một búi tóc dài. Từ đó bà rất hiển linh, dân làng luôn cầu bà phù trợ khi thiên tai, bệnh tật. Bên lăng mộ bà hiện còn một bia lớn bằng đá sa thạch có khắc chữ Chăm nhưng đã bị mờ.

Một truyền thuyết khác cho rằng bà sinh ra trong một gia đình giàu có ở làng Thu Bồn, vừa sinh ra đã có mái tóc dài, hàm răng trắng, luôn tươi cười, lên năm tuổi đã biết dùng thảo dược để chữa bệnh, cứu giúp rất nhiều người. Đến 50 tuổi bà quy tiên, đúng giờ ngọ ngày 12-2 âm lịch.

Theo lời dặn của bà, dân làng dùng hoa lá khâm liệm, đem quan tài đặt ở nhà làng đủ bảy ngày đêm. Đến hết hạn kỳ đó, dân làng bỗng nghe mùi thơm từ đình làng tỏa ra, đến xem thì thấy nắp áo quan bật lên, trong đó chỉ toàn là hoa sứ mà không có xác bà. Biết bà là thần nhân, dân làng xây lăng để thờ phụng.

“Việc dân làng Thu Bồn thờ cúng, làm lễ hội bà Thu Bồn trọng vọng hằng năm có từ rất lâu đời. Đây là nét độc đáo trong sự kế thừa và tiếp biến văn hóa bản địa của các lớp di dân Đại Việt đến vùng Thu Bồn mở đất. Một sinh hoạt văn hóa tâm linh có ý nghĩa hiện thực sâu sắc...”, ông Dương Đức Quý, nguyên trưởng Phòng Văn hóa huyện Duy Xuyên, nói.

Việc thờ tự bà Thu Bồn càng sớm được trọng vọng, chính danh khi bà được vua Minh Mạng phong hiệu là Pô Pô phu nhân tôn thần, vua Tự Đức thăng thượng đẳng thần, hiệu là “Mỹ đức thục hạnh Pô Pô phu nhân”.

Theo ông Lịch, lễ hội của vị nữ thần gắn liền với dòng Thu Bồn những năm gần đây ngày càng linh đình, trọng thể. Phần lễ nghi trang trọng, nhiều chi tiết, phần hội tưng bừng, rầm rộ.

Lễ hội bà Chiêm Sơn, bà chúa Tàm Tang

Làm giàu đời sống tâm linh của mình từ những di sản văn hóa bản địa, tạo nên sự tiếp biến, hỗn dung văn hóa đặc sắc có lẽ là tính cách nổi bật của cư dân Thu Bồn. Việc dân làng Chiêm Sơn (xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên) làm dinh thờ, làm lễ hội bà Chiêm Sơn hằng năm nói lên điều đó.

Không lớn như lễ hội bà Thu Bồn, nhưng lễ hội bà Chiêm Sơn vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hằng năm cũng là lễ hội ấn tượng của người Thu Bồn vùng trung Duy Xuyên. Vua Duy Tân đã sắc phong bà Chiêm Sơn là Thái Dương phu nhân, thần hiệu Nhàn uyển dực bảo trung hưng chi thần (1911). Còn vua Khải Định sắc phong bà là Trinh uyển dực bảo trung hưng Thái Dương phu nhân tôn thần, gia tặng Trai tĩnh trung đẳng thần (1925).

Từ việc bắt gặp và lập dinh thờ tượng đá thần Vishnu của người Chăm xưa bị vùi lấp nơi một bãi cát, từ niềm tin được vị nữ thần này độ trì, che chở, cư dân đã bản địa hóa vị nữ thần bằng tên gọi của làng, của pho tượng: bà Chiêm Sơn, bà Đá. Càng khích lệ hơn với cư dân, lễ hội được tổ chức trang trọng, to lớn hơn khi vị nữ thần họ tôn thờ được triều đình ban sắc phong.

Lễ hội bà Chiêm Sơn lại cũng đánh thức, làm rộn rã dòng Thu Bồn với lễ rước sắc từ bến Giá, với hội đua ghe tưng bừng, rộn rã. Niềm tin tâm linh, tình yêu dòng sông làm lễ hội bà Chiêm Sơn lớn thêm mỗi năm. Và lễ hội này được xã hội hóa thành công.

“Để dinh bà được uy nghi hơn, người trong làng ngoài xã, nhất là số người địa phương định cư ở TP.HCM, đã góp được 500 triệu đồng để làm lại dinh bà Chiêm Sơn vào giữa tháng 7-2012. Chính lễ hội đã góp phần kết nối sự hỗ trợ to lớn này...”, bà Nguyễn Thị Tuyết - chuyên viên Phòng Văn hóa thông tin huyện Duy Xuyên - nói.

Thêm phong phú với người Thu Bồn là lễ hội Bà chúa Tàm Tang. Mới được tổ chức lần đầu vào năm 2006, lễ hội nhằm tôn vinh bà Đoàn Quý Phi - được phong Hiếu Chiêu hoàng hậu - vốn là người làng Chiêm Sơn (xã Duy Trinh) có công chấn hưng nghề tằm tơ canh cửi của vùng Thu Bồn.

Quá khứ gần 400 năm còn nối được mạch liền với hiện tại, lễ hội là sự hồi nhớ đến người con gái của làng từ trên ngôi cao vẫn canh cánh với sự phát triển của nghề tơ lụa quê nhà.

“Hấp dẫn, cảm động nhất với dân mình là cảnh tái hiện thuyền của thế tử Nguyễn Phúc Lan hiện ra trên gành Điện Châu sông Thu Bồn trong đêm trăng, cảnh Bà tức là cô gái Đoàn Thị Ngọc hái dâu bên bãi cất tiếng hát để rồi Chúa và Bà thành vợ chồng. Nó làm dân mình bồi hồi quá...”, những người dệt vải, dệt lụa ở dọc bờ Thu Bồn xã Duy Trinh kể.

Họ cũng cố sao để cứ năm năm làm lễ hội Bà chúa Tàm Tang một lần. Để nhớ ơn bà, để có được niềm khích lệ mà làm ăn khá thêm lên.

Theo Huỳnh Văn Mỹ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Về Yên Tử ngắm tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông

(Infonet) - Ngày 3/12/2013 đã diễn ra Đại lễ tưởng niệm 705 năm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn, đồng thời khánh thành tượng Phật hoàng ngay tại núi An Kỳ Sinh. Ngay từ sáng sớm, lối vào Yên Tử đã chật kín phương tiện và người từ khắp nơi đổ về. Chưa kể, một số lượng lớn người đã ở trong Yên Tử từ tối hôm trước.

Ước tính có gần 6 vạn người về dự Đại lễ, một con số kỷ lục cho sự kiện tổ chức trong thời điểm nhất định từ trước đến nay ở Yên Tử. BTC đã phát miễn phí 20 nghìn suất xôi, 4 nghìn chiếc bánh chưng, 1500 suất cơm trưa…Trong 2 ngày tổ chức Đại lễ, Công ty CP Tùng Lâm đã miễn phí toàn bộ vé cáp treo.

Sự kiện Đại lễ tưởng niệm 705 năm ngày Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn (1308 – 2013) và khánh thành, an vị tôn tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông do UBND tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức đã thu hút một lượng du khách, tăng ni, phật tử kỷ lục đổ về Yên Tử.

Sau hơn 5 năm khảo sát và thống nhất ý kiến, Hội đồng nghệ thuật và các nhà sử học, chuyên gia đã quyết định chọn vị trí xây dựng tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông nằm trong tuyến bộ hành đường đá tự nhiên, từ khu vực tượng đá An Kỳ Sinh lên chùa Đồng, khu di tích Yên Tử (Quảng Ninh). (Theo Sử sách ghi Phật hoàng Trần Nhân Tông sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258, tức vào ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ và mất ngày 16 tháng 11 năm 1308 tức vào ngày 03 tháng 11 năm Mậu Thân).

Đây là tượng Phật đầu tiên được đúc nổi trên vị trí núi đá cao với khối lượng đồng lớn, khuôn cao, đường kính lớn, đặt ngay trên bệ bê tông hiểm trở, không có địa bàn thi công, mưa, mây mù, ẩm ướt quanh năm.

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được đúc bằng đồng nguyên khối, theo phương pháp thủ công của các làng nghề Đại Bái - Bắc Ninh, Ý Yên - Nam Định và được đặt tại khu An Kỳ Sinh, Yên Tử. Do địa hình thi công trên cao, mặt bằng chật hẹp mà khối lượng vận chuyển lên núi tới 2500 tấn, nhà thầu đã đưa ra phương án đúc tượng ngay trên bệ bê tông, lò nấu đồng nằm trên giàn giáo thép, bố trí trên 4 tầng, nằm xung quanh khuôn tượng, dẫn trực tiếp nước đồng vào khuôn theo hệ thống máng dẫn chảy"

Được biết, do khối lượng đồng lớn hơn 138 tấn, chiều cao tượng 12,6m và tượng để ngoài trời nên thịt đồng phải dày trung bình 4cm. Ban quản lý dự án thay đổi phương án thi công - đúc trượt ba lần: đài sen cao hơn 2 mét, thân tượng chân dung tượng (phần ngực, cổ và đầu) cao 9,9 mét. Tượng được dựng trên khu đất rộng 2.200 m² gồm khu vực đặt tượng, sân hành lễ, không gian tượng An Kỳ Sinh, sân tập kết và các công trình khác.

Quá trình thi công, phải tiến hành đúc thử lần 1 (3 tấn) để khẳng định khả năng nấu chảy đồng trên độ cao 920m so với mực nước biển, khả năng chịu nhiệt của bệ tượng (nơi tiếp giáp đồng với khuôn, bệ bê tông). Sau đó tiến hành đúc thử lần thứ 2 để kiểm tra khả năng nấu chảy của lò (7 tấn), hệ thống gió, móng lò, hệ thống đóng mở cửa lò, điều khiển nhiệt độ đồng.

Với tổng số vốn đầu tư từ nguồn xã hội hóa lên tới trên 75 tỷ đồng, tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được đánh giá là công trình kỉ lục, đảm bảo theo phê duyệt, sau lễ khánh thành sẽ tạo nên sức hút mới cho khu di tích danh thắng Yên Tử, phục vụ nhu cầu tâm linh tưởng niệm đức Vua Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được đúc cân đối ở tư thế ngồi ở trạng thái tĩnh tại, ung dung thư thái. Tượng sẽ phù hợp với bối cảnh và địa hình chung, được lấy từ bản gốc bức tượng đá đang được thờ tại Tháp tổ chùa Hoa Yên. Khu vực xây dựng tượng Trần Nhân Tông là một phần quan trọng trong hệ thống di tích chùa tháp tại Yên Tử và ở khu vực đồng bằng Bắc bộ nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, góp phần tạo thành một quần thể di tích lịch sử danh thắng  tâm linh nổi tiếng.

Thượng tọa Thích Thanh Quyết Ủy viên thường trực Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Trị sự Phật giáo Quảng Ninh, Trưởng ban dự án chia sẻ: “Ngoài việc huy động nguồn vốn xã hội hóa cho công trình, thì khó khăn nhất phải kể đến là biện pháp thi công, mà trước đó là việc chọn mẫu tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông. Sau khi nghiên cứu kỹ 7 mẫu tượng đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân tại Ban Quản lý di tích Yên Tử, chúng tôi cùng với nhiều nhà nghiên cứu đã đi đến thống nhất lấy mẫu pho tượng Trần Nhân Tông trong tháp tổ Huệ Quang với tư thế ngồi thiền hai tay bắt quyết, ngài mặc áo của dòng tiểu thừa, eo thon, khuôn mặt hiền từ thoát tục. Bốn mặt bệ đá đặt tượng của ngài được chạm khắc hoa văn hoa cúc và hình ảnh con rồng thời Trần.

Phật hoàng Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, có vai trò lãnh đạo quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 và thứ 3. Không chỉ vậy, Ngài còn là vị Tổ sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Đây là Thiền phái mang tư tưởng hòa nhập đạo với đời, thấm nhuần tính nhân văn sâu sắc, một tư tưởng riêng của Phật giáo Việt Nam.

Việc xuất gia tu đạo của Ngài khi đất nước yên bình đã góp phần không nhỏ cho đời sống chính trị Đại Việt cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV trở nên ổn định, ôn hòa, dân được hưởng cảnh ấm no, hạnh phúc.

Do vậy, ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn đã trở thành ngày Lễ lớn của Phật giáo Việt Nam và của lịch sử văn hóa dân tộc.

Theo Infonet
Du lịch, GO!