Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Chợ Lách vào mùa tết

(TTO) - Vào những ngày này, chỉ cần qua khỏi cầu Chợ Lách một đỗi đã thấy không khí tết lan tỏa quanh làng hoa Cái Mơn, nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách (Bến Tre) - “vương quốc” của hoa kiểng miền Tây.

Bến Tre giàu mía Mỏ Cày,
Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn (Chợ Lách).
Từ lâu, Chợ Lách đã nổi tiếng là một làng nghề cung cấp cây giống, đồng thời là một vựa hoa kiểng lớn nhứt nhì ở miền Tây, mỗi năm cung cấp cho thị trường trên 8 triệu sản phẩm. Chỉ riêng xã Vĩnh Thạnh đã có tới 2.700 hộ nông dân sống bằng nghề trồng hoa kiểng, mỗi mùa tết tung ra thị trường trên 2 triệu giỏ, trong đó mai vàng chiếm hơn 40%.

Hoa kiểng Cái Mơn rất đa dạng và phong phú, từ những loại kiểng truyền thống như mai vàng, tắc, cúc, vạn thọ, bông giấy, nguyệt quế… cho đến những giống ngoại nhập như bát tiên, sứ màu, dạ yến thảo, phát lộc hoa, đại phát tài, cát tường, môi son, mai vạn phúc…

Một số nhà vườn còn khai thác tối đa các loài cây kiểng đẹp, giàu ấn tượng mỹ cảm, màu sắc hài hòa, tươi sáng, hoa đẹp để phục vụ ngày tết. Ngoài kiểng hoa, kiểng lá, kiểng trái, Chợ Lách còn nổi tiếng với kiểng thú và kiểng hình, từng xuất sang một số nước trong khu vực.

Đến với “vương quốc” hoa kiểng Chợ Lách, ấn tượng sâu sắc nhất để lại trong lòng du khách có lẽ là tinh thần cần cù lao động và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Đặc sắc nhất là kiểng tắc, cúc mâm xôi và các loại kiểng treo với nhiều loại cây có giá trị thẩm mỹ như hoa dừa, dạ ý thảo, môi son, son tím, son hồng, cúc sao băng….

Đặc điểm của kiểng treo là nhánh mềm mại, buông rủ là đà, trông có vẻ thật lãng mạn.

Sau một vòng tham quan các vườn kiểng, du khách có thể đến làng du lịch Đại Lộc ở ấp Sơn Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách để tiếp tục khám phá những nét đặc trưng của quê hương Chợ Lách. Đại Lộc là một khu du lịch rộng trên 2ha, trồng rất nhiều loại cây ăn trái để phục vụ khách du lịch. Khu du lịch này mới hình thành từ đầu năm 2013 do dự án xây dựng xã nông thôn mới hỗ trợ.

Đến đây, khách mê khám phá sẽ tiếp tục chiêm ngưỡng các loài hoa và tận hưởng nhiều loại trái ngon như sầu riêng, măng cụt, bòn bon, chôm chôm…

Ai muốn ăn sáng ăn trưa thì có chả giò Đại Lộc, bánh xèo nhưn hến ăn với rau sạch do nhà vườn tự trồng. Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều món ăn đồng quê hấp dẫn. Đặc biệt còn có nước cacao tươi và rượu cacao do chủ nhân vườn du lịch đặc chế từ cây nhà lá vườn để phục vụ du khách.

Nếu thích, có thể ngồi dưới những tàn cây rợp bóng, trái sai oằn hoặc bơi xuồng dọc theo các con mương hít thở không khí trong lành và tìm lại chút kỷ niệm cũ của một thời thơ ấu. Giữa vườn có nhiều tum (chòi lá) khá khang trang và mát mẻ. Cả nhóm có thể vào nghỉ chân, ăn uống, trò chuyện vui vẻ và nạp năng lượng trước khi quay về.

Hứng thú hơn, khách có thể tham gia bơi xuồng, đánh bắt cá nướng ăn tại chỗ, liên hoan đốt lửa trại và tham gia đờn ca tài tử. Nếu cần có thể ở lại qua đêm vì nơi đây có cả phòng trọ, đủ phục vụ cho một đoàn khách trên 70 người.

Mọi người vừa rong chơi vừa say mê ngắm cảnh, trong lòng cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng. Về tới nhà, hình như bao mỏi mệt cũng dần tan biến sau một chuyến tham quan bổ ích và vô cùng hứng thú.

Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Làng nghề hương xạ Cao Thôn

Hưng Yên xưa có một số làng chuyên làm hương, nay chỉ còn hai nơi duy trì nghề này: Thôn Hạ, xã Trai Trang, huyện Yên Mỹ chuyên làm hương đen nhưng nay quy mô bị thu hẹp do không có thị trường; thôn Cao (quen gọi là Cao Thôn) xã Bảo Khê, thị xã Hưng Yên chuyên làm hương xạ.

Nghề làm hương ở Cao Thôn (Bảo Khê, Hưng Yên) đã có từ rất lâu. Các cụ cao tuổi trong làng cũng không ai biết rõ là nghề truyền thống này có từ bao giờ. Trải qua bao thăng trầm, hương Cao Thôn vẫn giữ được những đặc tính mà ít loại hương nào sánh được. Hương tại đây có mùi thơm đặc trưng, thoang thoảng mà nồng nàn chứ không sực nức như nhiều loại hương khác.

Hương xạ Cao Thôn vốn là sản phẩm truyền thống đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng Hưng Yên và nhiều tỉnh lân cận. Người dân trong làng đã trải qua gần hai trăm năm sống và gắn bó với những nén hương.

Theo tục truyền, xưa kia, bà Đào Thị Khương, người con gái quê có tài có sắc lấy chồng tận bên Trung Quốc đã học được nghề làm hương xạ. Sau này bà trở về quê hương truyền dạy nghề cho dân làng.
Trải qua bao thăng trầm, nén hương xạ Cao Thôn đã có được những phẩm chất mà ít làng hương nào sánh được, từ mùi thơm, độ bắt lửa đến hình thức. Hương Cao Thôn có mùi thơm đặc trưng, nhẹ mà thanh, không sực nức nhưng lại phảng phất rất lâu.

Nguyên liệu chủ yếu để làm hương là dây keo được mua từ Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hóa... và cả trong miền Nam. Dây keo được nghiền thành bột, sau đó trộn lẫn với các loại thảo mộc như: xuyên đại hoàng, xuyên quy, trắc bách diệp, hoàng đàn, tùng bạch chỉ, đinh hương, mỏ quạ. Tùy từng thợ mà cho ra các loại hương với mùi thơm khác nhau do cách pha chế của mỗi người mỗi khác.

Hầu hết các công đoạn từ pha chế thuốc, se, nén đều phải tiến hành bằng phương pháp thủ công. Các công đoạn đòi hỏi sự chú tâm của người thợ, phải thật đều, thật chuẩn xác thì sản phẩm mới như ý.

Nén hương làm xong được đem phơi trên những chiếc phên, nắng gió sẽ làm hương khô, màu sắc đẹp mà giữ nguyên mùi thơm. Trời nắng thì phơi một ngày, trời râm thì phải phơi từ hai đến ba ngày. Họ tránh đưa hương qua lửa vì như thế hương sẽ bị mất mùi. Sự chu đáo, nghiêm khắc của người thợ trong từng công đoạn chính là bí quyết làm nên thương hiệu của hương Cao Thôn.

Công nghệ sản xuất hương đơn giản, dụng cụ có thể tự tạo hoặc mua sắm không tốn kém, nguyên liệu làm hương đều lấy từ thảo mộc, vốn sản xuất cũng không đòi hỏi lớn lắm, thế nhưng không phải ai cũng có "duyên" với nghề này.

Người thực sự sống bằng nghề làm hương chỉ có thể là người ở Cao Thôn. Một số gia đình làm ăn phát đạt đã ra thành phố mở hiệu chuyên bán hương nổi tiếng một thời như Quảng Thái, Vạn Hoa, Hoàng Phát (Hà Nội), Đồng Phát (Hà Đông), Hồng Phúc (Huế), Đồng An Xương (Sài Gòn), Đồng An Mỹ (Hải Dương),...

Đến thời vụ làm hương, vào hai tháng giáp Tết Nguyên Đán, người Cao Thôn còn đổ ra các thành phố, thị xã làm hương bán tại chỗ để giảm bớt chi phí chuyên chở, tuy vậy sản lượng hương sản xuất tại địa phương vẫn là chính.

Người Cao Thôn cho rằng, nghề làm hương liên quan đến tâm linh, lương tâm làm nghề không cho phép họ cẩu thả, làm hương giả, hương kém chất lượng. Mỗi mẻ hương, người thợ đều cẩn thận đốt thử để kiểm tra chất lượng xem có cháy đều, cháy hết không, hương thơm ra sao, hình thức thế nào...

Về Cao Thôn những ngày giáp Tết mới thấy không khí làng nghề thật náo nhiệt. Ngay từ ngoài Quốc lộ 39 đã san sát những gian hàng bầy bán hương, đủ loại hương quế, hương đen, hương vòng, hương đậu tan...

Mùi thơm của hương toả khắp nơi. Trong làng, khung cảnh lao động diễn ra rất khẩn trương. Từ những em bé mới chỉ học lớp một, lớp hai đến những cụ già tóc bạc, răng rụng, ai đấy đều rất tất bật sản xuất hàng phục vụ cho mùa làm ăn tốt nhất trong năm. Cả làng có 120/190 hộ làm hương. Công việc không nặng nhọc nên có thể tận dụng được hết nguồn lao động trong làng, từ người già đến trẻ nhỏ đều có thể làm được.

Nghề làm hương đem lại thu nhập chính cho nhiều hộ dân trong làng. Hiện nay ở Cao Thôn có khoảng 300 lao động làm hương, sản lượng hương xạ đạt xấp xỉ 10 triệu nén/năm với doanh thu từ 2,5 - 3 tỷ đồng. Thời vụ làm hương đông nhất là hai tháng giáp Tết Nguyên Đán.

Nghề làm hương ở Cao Thôn không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn rất thân thiện với môi trường. Nhiều năm nay, người thợ vẫn lưu giữ được những bí quyết truyền thống để bảo đảm cho chất lượng hương ngày càng tốt mà không phải sử dụng bất cứ chất hóa học nào. Từ xa xưa đến nay, những loại cây, thuốc bắc như quế chi, hoàng đàn, hồi... vẫn là nguyên liệu để làm ra sản phẩm hương truyền thống.

Để đáp ứng nhu ngày càng cao của người tiều dùng, cả làng không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, quảng bá sản phẩm ngày càng rộng rãi.

Một trong những cơ sở sản xuất quy mô lớn ở Cao Thôn hiện nay phải kế đến là cơ sở hương Thế Hưng của ông Đào Văn Cơ. Hiện cơ sở này đã xây dựng được nhà xưởng thu hút trên 40 lao động thường xuyên, có cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm tại Hà Nội, thường xuyên xuất hàng đi Ấn Độ.

Tin vui đã đến với người dân, mới đây, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên đã về nghiên cứu, xây dựng logo riêng cho làng nghề nhằm từng bước quảng bá, xây dựng thương hiệu. Làng nghề hương xạ Cao Thôn vẫn có triển vọng giữ được nghề và ổn định phát triển.

Theo Hoidisan.vn + ảnh iHay.Thanhnien
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Một ngày ở Phù Lãng

Phù Lãng là một trong số những làng gốm nổi tiếng của miền Bắc thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Nằm cách Hà Nội khoảng 60km về phía đông bắc, cùng với gốm Bát Tràng (Gia Lâm) và gốm Thổ Hà (Bắc Giang), cái tên gốm Phù Lãng đã và đang dành được nhiều sự chú ý của khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là dân ham mê chụp ảnh.

Làng nghề gốm Phù Lãng đã tồn tại từ lâu đời. Theo sách Kinh Bắc thì ông tổ của nghề gốm Phù Lãng là Lưu Phong Tú, ông đã học được nghề gốm trong chuyến đi sứ bên Trung Quốc và về truyền dạy cho người trong nước, nghề gốm bắt đầu có ở Phù Lãng từ thế kỷ thứ 13.

Phù Lãng dễ nhận ra bởi những nét riêng biệt điển hình của một làng gốm. Những ngôi nhà gạch trần, mái ngói nhấp nhô dọc hai bên con đường làng đổ bêtông quanh co, lắt léo. Sản phẩm của nghề gốm được xếp đầy sân nhà, bờ ruộng, dọc các lối đi.

Nếu gốm Thổ Hà lấy chất liệu từ đất sét xanh, Bát Tràng là sét trắng, thì gốm Phù Lãng lại được tạo nên từ đất đỏ hồng lấy từ vùng Thống Vát, Cung Khiêm (Bắc Giang). Sản phẩm Gốm Phù Lãng gồm 3 loại hình:

- Gốm dùng trong tín ngưỡng như tượng Phật, lư hương và các đồ thờ cúng…
- Gốm gia dụng : dòng sản phẩm này bạn có thể bắt gặp rất nhiều trên đường vào làng Phù Lãng. Gốm gia dụng rất phong phú và đa dạng, bao gồm những sản phẩm phục vụ cho đời sống hàng ngày của người dân như lọ, bình, ang, chum, vại, ống điếu, bình vôi…
- Gốm trang trí: lọ cắm hoa, bình trang trí, tranh gốm với những hình ảnh phong cảnh và sinh hoạt đặc trưng của làng quê Việt, ngoài ra còn các tạo hình khác như người, vật, nhà cửa…

Nào tiểu quách xếp hàng tầng tầng lớp lớp, nào ống nước tròn vo chất cao ngất bên tường, nào chậu cảnh, bình gốm, chum vại…, cái còn ướt đỏ màu đất, cái đã phơi màu bạc phếch, cái đã qua lò nung lên nước bóng loáng…

Mỗi góc vườn, mỗi con đường, mỗi bờ rào là một khuôn hình dễ thương, mộc mạc. Nó như gìn giữ trong lòng cả một câu chuyện dài về quá khứ của xứ sở Kinh Bắc hôm qua, và ẩn mình trong cái hồn của làng gốm Phù Lãng hôm nay.

Tuy gần vùng đất than Quảng Ninh nhưng ở Phù Lãng người ta vẫn sử dụng phương pháp truyền thống - dùng củi để nung gốm, nhờ sự biến nhiệt khác nhau tạo ra những vết táp trên bề mặt gốm mà không phương pháp nào có thể thay thế. Xương đất sét có màu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao, xương gốm chuyển màu gan gà, với hai màu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (thường gọi là men da lươn). Nếu vẻ đẹp của gốm Bát Tràng là sự đa dạng về nước men, nét vẽ tinh tế, thì hồn cốt của gốm Phù Lãng được tạo nên từ sự dân dã, mộc mạc của nước men da lươn này.

Người làm gốm ở Phù Lãng còn rất mộc mạc và thân thiện. Vốn là một địa điểm tham quan và chụp ảnh khá lý tưởng cho các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và không chuyên đến từ Hà Nội, Phù Lãng đã quá quen với những đoàn người tay máy, tay ống lang thang trong làng từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều.

Ai cũng hăm hở, len lỏi giữa hằng hà sa số sản phẩm gốm, những ngóc ngách rêu phong, những bức tường được dựng lên từ những tiểu sành vỡ, hỏng, những đống củi xếp hàng như ma trận khắp làng.

Người làm gốm ở Phù Lãng không ngại tiếp chuyện khách phương xa, sẵn sàng trả lời tỉ mỉ những công đoạn làm nghề, tay làm miệng nói, những giọt mồ hôi rơi giữa trưa hè nắng gắt, nhưng không phải vì thế mà họ không mỉm cười…

Khách nước ngoài đi Phù Lãng ngoài việc mua tour từ các đại lý du lịch thì có thể theo chân dân “bụi” tự túc một hành trình. Từ Hà Nội có thể đi xe máy hoặc ôtô theo quốc lộ 5 rồi rẽ lên đường 1A mới. Tới bùng binh cầu vượt ở Bắc Ninh thì rẽ phải theo đường đi Phả Lại, đến trên cột cây số ghi “Phả Lại - 6km” vài trăm mét thì rẽ phải xuống một con đường làng nhỏ nhưng sạch sẽ, chạy giữa những thửa ruộng sâm sấp nước mùa cấy mạ, qua chợ Châu Cầu chừng 5 - 10 phút là tới.

Phù Lãng dù đang dần chuyển mình theo thời đại, nhưng trong nó vẫn ẩn chứa cái hồn rất truyền thống, rất quê, rất mộc mạc mà đằm thắm của xứ sở Kinh Bắc xưa kia.

Phù Lãng, hoa trên đất

Du lịch, GO! - ảnh Dân Nhà Quê + internet

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Mượt mà đồi chè Đắk Nông

(ANTĐ) - Vùng đất Tây Nguyên huyền bí với những trường ca núi rừng, tiếng cồng chiêng bên ngọn lửa nhà rông đã trở thành nét văn hoá đặc trưng. Và còn nữa, cả những vườn cà phê trĩu quả, những đồi chè xanh mướt cũng trở thành điểm đến lãng mạn.

< Hái chè ở Gia Nghĩa.

Một trong những nơi trồng chè lớn và tuyệt diệu nhất Tây Nguyên phải kể đến thị xã Gia Nghĩa (Đắk Nông). Với sản lượng chè hàng năm lên tới hàng trăm tấn thì lợi nhuận cho người trồng chè không phải là nhỏ. Nhưng đồng thời, những đồi chè hiếm hoi ấy của Tây Nguyên đã trở thành một trong những điểm khám phá đầy hứng khởi lẫn những mộng mơ tinh khiết.

Trong chuyến khám phá đất trời Tây Nguyên, chúng tôi đã được đến nhiều điểm du lịch nổi tiếng nhưng những đồi chè Gia Nghĩa là êm dịu và cuốn hút hơn cả. Có lẽ không khí trong lành của đồi chè tạo cho con người một cảm xúc êm đềm giữa những ồn ào phố thị. Và hương chè thoang thoảng thơm giúp mỗi người cảm nhận sự dịu nhẹ trong tâm hồn khi hoà mình với thiên nhiên.

Để khám phá đồi chè Gia Nghĩa mênh mông thì không phải điều khó. Từ thị xã Gia Nghĩa, bạn có thể đi bằng xe máy khoảng 10 cây số đến xã Quảng Khê. Ngay từ xa bạn đã thấy hương thơm của chè theo hướng gió thoảng lại. Sự êm dịu sẽ tăng dần khi tiến gần đồi chè óng ánh trong sương sớm ban mai.

Không như những nơi khác, đồi chè Gia Nghĩa sẵn sàng đón nhận bất cứ ai muốn ngắm cảnh đẹp, miễn là bạn không ngắt búp trà và giẫm lên những gốc cây non tơ. Bạn có thể đi bộ từ dưới chân đồi để từ từ cảm nhận không khí thanh khiết của thiên nhiên. Từng cấp độ một, càng lên cao không khí càng lạnh thì tầm nhìn bao quát cả đồi chè càng lớn.

Lúc này, những hàng chè thẳng tăm tắp thoải xuống sườn đồi như những tấm lụa xanh mượt mà khiến cả những người khó tính nhất cũng phải hài lòng. Đó là vẻ đẹp tự nhiên chứ không hề sắp đặt. Tạo hoá đã ưu ái ban cho Đắk Nông những thung lũng uốn lượn khiến cho đồi chè càng thêm đẹp và non tơ hơn.

Những cô gái Ê đê, M’nông vai đeo gùi, tay thoăn thoắt hái những ngọn, những búp, những lá, với nụ cười rạng rỡ và hồn nhiên của Tây Nguyên. Họ là chủ đồi chè, cũng là những chủ thể điểm xuyết cho đồi chè vốn đã mộng mơ càng trở nên tươi tắn rộn ràng sức sống.

Ở nơi đây, như nơi giao thoa đất trời, buổi ban mai những tảng sương lững thững hoà vào từng gốc chè như chốn bồng lai tiên cảnh. Bạn có thể cùng bạn bè, người thân lưu lại những kỷ niệm đẹp đẽ về Tây Nguyên, và sự dịu dàng êm ả sẽ mãi theo bạn như một món quà mà tạo hoá đã ban tặng.

Theo Nam Trần (báo An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Về Gò Công ăn cá hấp

(ĐĐK) - Do công việc, tôi đã tới Gò Công rất nhiều lần. Những địa danh ở Gò Công (cách đây ít năm tách thành thị xã Gò Công, huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây) như Kiểng Phước, Tân Thành, Đèn Đỏ, Cửa Tiểu, Vàm Láng… đã trở thành thân thuộc, như chính những món ăn nơi này vậy.

Và, cũng như vô số những làng biển khác mà tôi từng đi qua, những làng biển ở Gò Công cũng thường nghèo xơ xác nhưng giàu ân tình, tiếng cười và những gương mặt đôn hậu.

Với người dân Gò Công sống ven biển, cá là nguồn thu chủ yếu của họ. Mùa nào cá đấy. Từ những loài cá ngừ nặng cả trăm ký cho tới những con ruốc nhỏ xíu như đầu que tăm đều được người dân Gò Công khai thác được trên vùng biển quê mình.

Nhưng, không chỉ biết đánh bắt mà ngư dân ở đây còn biết chế biết những món ăn ngon từ cá.

Ở Gò Công, khi người đàn ông buông tay chèo cập cảng cũng là lúc người phụ nữ làm công việc của mình, sơ chế cá. Ngoài những món cá phơi khô truyền thống thì cá hấp cũng được nhiều gia đình chế biến, không chỉ để ăn mà còn đem bán. Cá hấp Gò Công rất đa dạng nhưng chủ yếu là những loài cá nhỏ như cá nục, cá trích, cá ngừ và cá thu chuột. Theo đó, những chú cá tươi ngon thân bạc trắng còn ướt nước biển được rửa sạch, phơi khô rồi ướp muối.

Phương pháp hấp cá của người Gò Công có nhiều bí quyết riêng, một trong số đó chính là việc dung nước biển để hấp cá chứ không dùng nước ngọt như những nơi khác. Theo những cụ già cao tuổi ở đây thì nước biển mặn sẽ làm con cá thêm đậm đà hương vị và có thể để được lâu hơn. Điều kỳ lạ mà tôi không làm sao hiểu được là nhìn những con cá hấp ở đây nó luôn gợi lên cho mình cảm giác cá tươi, dù về mặt thời gian, cá hấp có thể dự trữ lâu như khô cá vậy.

Thú thực, nhìn những con cá nhỏ bé được hấp trên những chiếc phên đan trong nghi ngút khói rồi đem ra nắng trời hong khô trước khi được bỏ vào những chiếc giỏ làm bằng tre nhỏ bé mà chúng tôi cảm thấy hương vị quê hương ngập tràn lẫn trong dư vị tanh tanh của cá.

Với cách làm như vậy, cá gần như giữ được vị tươi ngon vốn có mà lại có thể để được lâu, đến cả tháng khiến nhiều người rất an tâm bởi nếu là cá khô, dù gì cũng không còn hương vị cá tươi nữa. Mà cá tươi thông thường thì không thể bảo quản lâu như thế được. Thế nên có thể coi, cá hấp chính là loại cá vừa khô vừa tươi, khá độc đáo mà người dân Gò Công làm ra. Ngoài ra, cá đựng trong những chiếc giỏ tre đan cũng làm cho chúng trở nên bắt mắt và hấp dẫn hơn.

Thực ra, cá hấp thì nhiều địa phương khác cũng có nhưng không ở đâu, cá hấp có được hương vị đậm đà như ở Gò Công. Nhớ những trưa trời nắng nói chói, mình đã ghé vội vào một quán ven đường nào đấy mà người chủ quán mang ra món cá hấp tưới cà chua khiến bây giờ vẫn không thể nào quên. Cái dư vị săn chắc như thịt cá chiên giòn lại phảng phất chút tanh nồng như cá luộc đã hòa quện vào nhau, làm cho những chú cá nục tưởng bình thường trở thành lạ lẫm, cao sang như một món ăn đặc sản.

Và tôi chợt nhận ra rằng, không phải là những thứ quý hiếm, những thứ vật dụng đắt tiền mà cái làm cho người ta nhớ mãi khi ăn chính là cái khác lạ, cái bình dị của những thứ tưởng chừng như than quen ấy. Có lẽ chính vì lẽ ấy mà lần nào về Gò Công, tôi cũng ăn cá hấp và mua một chút ít về làm quà như một thứ đặc sản riêng biệt của vùng đất vốn đã quá nhiều những điều đặc biệt nằm ven biển này.

Theo Đoàn Xá (báo Đại Đoàn Kết)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

Mùa đi bung ống

(Dân trí) - Khi nắng mùa thu lướt vội qua tay, miền Trung bắt đầu mưa gió dầm dề, trời cũng vừa se lạnh, ấy là lúc người dân quê tôi rộn ràng đi bung ống. Bung ống, thổi ống hay xay ống là cụm từ quen thuộc mà quê tôi thường dùng để chỉ việc xay kẹo ống gạo, nhiều nơi khác gọi là bỏng gạo.

Xóm nhỏ nằm ven lộ đã quá quen với cảnh người chen chúc chờ tới lượt mình bung ống ở nhà chú Sáu. Một chiều đầu đông, chú Sáu vui vẻ lấy tấm biển bằng gỗ, bên trên sơn trắng dòng chữ “thổi ống” rồi cắm trước quán xay gạo. Cái tấm biển ấy dễ chừng cũng đã gần chục năm, gỗ bắt đầu mục đen, nhưng dòng chữ vừa được sơn mới nên sáng trưng, rõ ràng.

Đám con nít bắt đầu xôn xao, chờ đi học về là chạy tuốt lui sau nhà, xin mẹ vài lon gạo, gói mì tôm, ít đỗ xanh, ngô, đường rồi í ới gọi nhau đi thổi ống. Lúc ngồi chờ tới lượt, cả  chủ cả khách cười nói rôm rả, từ chuyện cơn bão năm này đến cơn lũ năm kia, từ chuyện đám cưới trong xóm đến chuyện nhà nọ có con đi du học. Đám con nít thì mân mê những hạt gạo, dám chừng thòm thèm, chờ đợi giây phút gạo thành ống kẹo.

Dưới tiếng máy nổ chạy xình xịch, dì Mỹ trộn đều các thức gạo, đỗ mà khách hàng chuẩn bị sẵn rồi cho vào lỗ nhỏ. Chú Sáu cầm cái kéo ngồi chờ sẵn, gạo qua máy, qua lỗ bé tí ấy là chảy ra thành ống kẹo nghi ngút khói. Lúc này, chú bắt đầu ung dung cắt thành những ống vừa tầm cái thước kẻ.

Người nào người nấy ngồi chực sẵn, chờ ống kẹo vừa cắt ra là hì hụi vừa thổi vừa cho vào bao. Chốc sau, chỉ vài lon gạo  đã được một bao đầy ống. Mùi của gạo, của ngô, của đỗ xanh tỏa ra thơm lừng. Nhà ai trót bỏ nhiều đường thì ống gạo xay ra nhỏ tí, có khi còn bị cháy đen thui, dì Mỹ phải cập rập lấy gạo đổ thêm không kịp. Những ống gạo màu trắng nhưng ai thêm nhiều ngô thì có màu vàng nhạt, nhiều đỗ xanh thì ống lại có màu xanh dịu.

Tất cả vị đồng quê  trộn lẫn thành một thứ quà ngon ngọt chẳng thể lẫn vào đâu. Cho ống vào miệng nghe giòn rụm, ăn giòn tan vui tai. Mệ già hàm răng đen nhánh, cầm ống hít hà rồi cho vào miệng ăn ngon lành. Mệ cười hiền, ăn bánh kẹo đắt tiền mà lo chất bảo quản, chứ cứ ăn thứ ống như mình đây thì lo gì.

Đám con nít ở làng khác thường đội mưa đội gió đạp xe đi bung ống. Đứa nào đứa nấy cầm bao ống đi về, treo lủng lẳng sau xe đạp mà mặt mày hớn hở đến thương. Nhiều dì, nhiều mệ cũng tay xách cả bao tải ống, khấp khởi ra về. Thứ quà này khi xay ra rỗng nhẹ bên trong, nên nhác thấy ai vác cả bao tải đằng sau mà nhẹ bẫng là biết ngay vừa đi bung ống.

Trong làng, chỉ có nhà chú Sáu làm nghề này. Vợ chồng chú sắm cái máy rồi ngồi đây bung ống cũng hơn mười năm nay. Chú cười khề khà, vui vì nhiều người còn mê thứ quà quê này, đặc biệt là đám con nít. Cứ mỗi ngày mưa, chú Sáu và dì Thủy lại làm không ngơi tay. Mùa nông nhàn, lại mưa lớn, ở nhà buồn miệng nên già trẻ, lớn bé bắt đầu rủ nhau đi bung ống. Tiền xay ống lại khá rẻ, chỉ một ngàn trên một lon gạo. Bởi vậy, trời càng mưa dầm dề, người đi bung ống càng nhiều là vậy.

Bạn đi du học ở xa, thấy ai đó chụp ảnh những ống gạo quê mình đưa lên mạng xã hội nên nhớ quay quắt. Chỉ ước được về nhà mùa này, nằm trong chăn ấm với mấy chị em rồi nhấm nháp ống gạo.

Bạn ở thành phố, bảo ở đó cũng có bán sẵn, nhưng cái vị ống không như ở quê. Có lẽ, bởi ống gạo bé xíu này chất chứa cả hồn quê trong đó, là tinh hoa từ gạo, từ đỗ, từ những sản vật bình dị đã lớn lên trên đất quê mình. Thế nên, ống gạo và ký ức những ngày đi bung ống sẽ còn mãi trong tuổi thơ của bao đứa trẻ quê nghèo.

Theo Diệu Ái (báo Dân Trí)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Làng dệt thổ cẩm Hà Ri

Cách Quy Nhơn khoảng 80km, Hà Ri là nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc BaNa nhất Bình Định nên vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, đặc biệt là nghề dệt thổ cẩm. Khi rổi việc hoặc những lúc nông nhàn, chị em phụ nữ lại miệt mài bên khung cửi để dệt ra những tấm vải thổ cẩm đẹp nhất cho mình và cho gia đình.

Nghề dệt thổ cẩm có từ lâu đời trong cuộc sống của người Bana ở Vĩnh Thạnh. Tuy nhiên, qua nhiều năm do nhịp sống thay đổi, nhiều người sử dụng các sản phẩm hàng may mặc hiện đại nên các sản phẩm thổ cẩm có ít người dùng, nghề dệt thổ cẩm cũng dần mai một. Những đường nét hoa văn thổ cẩm truyền thống đã dần vắng bóng trên trang phục người Bana trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, kể cả những ngày lễ hội.

Do đó, để khôi phục lại nghề dệt thổ cẩm-hoạt động mang đậm nét văn hóa truyền thống của người Bana, được sự hỗ trợ của tỉnh, thời gian qua huyện Vĩnh Thạnh đã tổ chức các lớp dạy nghề, xây dựng nhà trưng bày giới thiệu sản phẩm thổ cẩm...và chương trình khôi phục nghề truyền thống này bước đầu có tín hiệu khả quan.

Nghề dệt thổ cẩm ở các làng Bana trước đây, khi còn phải tự làm sợi, cứ quãng tháng ba, tháng tư là bà con lên rẫy trồng bông, đến tháng tám, tháng chín thì bông được thu hoạch. Quả bông đem phơi khô rồi kéo ra và quay thành sợi. Còn với nguyên liệu dệt bằng cây gai thì lấy dao cạo lớp vỏ bên ngoài, đập dẹp, đem phơi khô rồi dùng tay xé nhỏ, xoắn hai, ba sợi lại đem ngâm với nước vo gạo cho sợi kết lại...

Thuốc nhuộm là củ, vỏ cây được lấy từ rừng về, đem nấu và vắt lấy nước. Sợi được ngâm vào thuốc, qua một đêm vớt ra, phơi khô sau đó đưa lên sa quay thành từng cuộn theo từng màu sắc riêng biệt. Đó là phần nguyên liệu, còn khung dệt chỉ là một khung gỗ, bộ sa quay để kéo sợi. Để dệt một tấm chăn hay một tấm vải đủ may một bộ áo váy nữ nếu rảnh lúc nào làm lúc nấy phải mất cả tháng trời, còn nếu dệt ròng thì cũng khoảng bốn đến năm ngày.

Về cách dệt thổ cẩm thì kỹ thuật của người Bana tương đối giống với một số dân tộc khác như Chăm, H’rê. Song về hoa văn, họa tiết trang trí thì có nhiều nét khác nhau. Thổ cẩm của người Bana K’riêm ở Vĩnh Thạnh dùng nhiều họa tiết hoa văn hình học với các đường thẳng, đường cong, hình tam giác. Họa tiết thường là những nét hoa văn li ti chồng lên nhau tạo thành một dải phức hợp quanh một mẫu trang trí chính là ngôi sao tám cánh dệt trên nền trắng.

Người Bana chọn màu đen làm màu chủ đạo trong trang trang phục thổ cẩm kết hợp với các màu đỏ, trắng và điểm một ít màu vàng, xanh non tạo nên ấn tượng mạnh mẽ nhờ sự tương phản. Có thể nói rằng, thổ cẩm của người Bana chính là sự kết tinh văn hoá trong môi trường tự nhiên, xã hội riêng biệt. Nó mang nét đẹp của sự hồn nhiên, thanh khiết. Như đất, như nước, như núi rừng Tây Nguyên.

Ngày nay nghề dệt thổ cẩm có nhiều thuận lợi hơn, nguyên liệu bán sẵn ngoài chợ khá nhiều, các mí thường đi chợ mua chỉ màu và vải may sẵn về dệt. Chỉ màu ngoài chợ có đủ màu sắc, vừa bền đẹp lại vừa rẻ. Người dệt mua chỉ màu về chỉ để dệt hoa văn cạp váy, còn thân váy là vải đen được may nối vào. Thuận lợi là thế, nhưng nhìn vào một chiếc váy bằng thổ cẩm bây giờ hình thư thiếu hẳn độ sâu và vẻ đẹp hồn nhiên của thổ cẩm truyền thống.

Hiện nay ở mỗi làng miền núi ở Vĩnh Thạnh có khoảng từ mười lăm đến hai mươi khung dệt và cũng chừng ấy người làm nghề dệt, chủ yếu là những người đã trên bốn mươi tuổi. Các mí (các cô) dệt khi có thời gian rảnh rỗi, khi trông nhà, lúc trông con nhỏ. Hết việc nhà thì ngồi vào dệt. Có khi một tấm vải áo dệt hàng tháng trời vẫn còn nằm dở dang trên khung cửi. Theo nhiều người hiện còn làm nghề dệt thì lâu nay bà con chỉ dệt tranh thủ lúc công việc nương rẫy, đồng áng đã tạm xong.

Tuy việc khôi phục và phát triển nghề truyền thống dệt thổ cẩm ở Vĩnh Thạnh bước đầu có tín hiệu khả quan, song cũng có những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Chẳng hạn như việc tuyên truyền ý thức về bảo tồn văn hoá dân tộc - trong đó có thổ cẩm - cho lớp trẻ tại các làng cần được tăng cường hơn.

Bên cạnh đó cũng cần tạo điều kiện để các cơ sở làm nghề đổi mới hình thức sản phẩm phù hợp thị hiếu thị trường và có các biện pháp thiết thực giải quyết đầu ra cho sản phẩm...
Một phần sản phẩm làm ra là để phục vụ nhu cầu sử dụng của đồng bào Bana trong huyện, tuy nhiên trong tương lại phần lớn sản phẩm thổ cẩm sẽ được tiêu thụ mạnh hơn phục vụ cho khách du lịch, khi tour du lịch sinh thái Quy Nhơn-Tây Sơn-Vĩnh Thạnh được mở rộng.

Theo website Dulichbinhdinh
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Ngọt ngào mạch nha xứ Quảng

(TTO) - Du khách khi rời Quảng Ngãi thường mua đặc sản mạch nha về làm quà cho người thân. Cắn miếng bánh tráng giòn rụm, vị ngọt thanh của mạch nha nơi đầu lưỡi như để lại dư vị ngọt ngào của vùng đất miền Trung đầy nắng gió...

Mạch nha Quảng Ngãi vốn nổi tiếng từ xưa. Theo Địa chí Quảng Ngãi, từ những năm 1930-1935, mạch nha Quảng Ngãi đã được trưng bày tại hội chợ ở Huế, Hà Nội và được công nhận là sản phẩm tiểu thủ công nghiệp xuất sắc. Triều đình Huế từng phong hàm "Cửu phẩm văn giai" cho nghệ nhân chế biến mạch nha.

Tương truyền nghề làm mạch nha xuất phát từ gia đình ông Phó Sáu ở thôn Thiết Trường, tổng Lại Đức, nay là thị trấn Mộ Đức. Sau đó, ông truyền nghề cho chàng rể có tên Trần Diêu kế nghiệp sản xuất mạch nha khá quy mô tại thị trấn Thi Phổ và thị trấn Đồng Cát. Do vậy mới có câu ca "Kẹo gương Thu Xà, Mạch nha Thi Phổ".

Muốn làm mạch nha, trước tiên chọn giống lúa thơm đem ngâm cho nứt thành mộng rồi đem phơi khô xay nhuyễn thành bột. Sau đó, chọn giống nếp thơm, dẻo đem nấu thành xôi rồi ủ với mộng lúa đã xay chừng 12 giờ cho lên men rồi dùng kít ép lấy nước đem nấu cô lại thành mạch nha.

Quy trình làm mạch nha ở Mộ Đức nhiều người biết, nhưng cái tài của người nấu mạch nha là chọn giống nếp bầu dẻo thơm để nấu thành xôi, biết ủ mộng với xôi theo đúng cân lượng. Đặc biệt trong quá trình nấu nước (đã ép sau khi ủ nếp và mộng lúa đã xay) phải có tỉ lệ phù hợp vì trong quá trình nấu nếu già lửa mạch nha sẽ có mùi khét, nếu nấu quá non thì mạch nha không dẻo, đụng vào sẽ dính tay và không để được lâu. Nấu mạch nha tới thì đổ vào lon sữa bò để nguội rồi đóng nắp.

Ở TP Quảng Ngãi có nhiều quầy bán mạch nha. Nhưng người sành mua thì từ TP Quảng Ngãi vẫn sẵn sàng vượt qua những đoạn đường xa để tìm đến những "lò" mạch nha nổi tiếng. Thậm chí, nhiều người Quảng Ngãi định cư ở nước ngoài có dịp đều nhờ người thân mua mạch nha quen thuộc để gửi cho mình.

Anh Nguyễn Kim Ngọc (thôn Tú Sơn 1, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức) tâm sự: “Đây là nghề gia truyền. Đời ông bà truyền cho cha mẹ đến đời mình cố gắng làm để giữ nghề”.

Cũng vì suy nghĩ như thế nên dù có nhiều nơi làm mạch nha có số lượng khá lớn để kinh doanh, nhưng quá ham lợi nhuận, nấu mạch chưa tới hoặc để già lửa mua về ăn nghe khét lẹt, nhưng với gia đình anh chất lượng rất quan trọng. Mở lon mạch nha anh chị nấu đã nghe thơm, cầm chiếc đũa vít một vích mạch nha mềm đều ăn vào nghe vị ngọt thanh nơi đầu lưỡi.

Từ mùa đông cho đến mùa hè, lúc nào cũng có gần 100 lon mạch nha bày trong tủ kính. Hết đợt này thì có đợt khác gối đầu, giá chỉ 15.000 đồng/lon. Gắn bó với nghề, mỗi ngày hai vợ chồng thu nhập được khoảng 250.000 đồng, bằng trị giá ngày công lao động ở địa phương. Hỏi tại sao không khuếch trương nghề, anh Ngọc cười: “Hữu xạ tự nhiên hương”.

Cũng nhờ những người cần mẫn, khéo tay, tâm huyết nên đặc sản mạch nha Quảng Ngãi còn mãi với thời gian.
Xem thêm >

Theo Võ Qúy Cầu (Du lịch Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Thổ cẩm Chăm Phum Soài

An Giang – một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ có làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm Chăm nổi tiếng tại ấp Phum Soài, xã Châu Phong, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang được rất nhiều người biết đến. Người địa phương gọi tên là Thổ cẩm Phủm Xoài.

Nơi đây được biết đến như một trong những địa phương còn lưu giữ đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Chăm ở Việt Nam. Ngoài nghề nông nghiệp và đánh bắt thủy sản, phần lớn người dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như dệt, thêu, đan…

Sản phẩm được làm ra là những chiếc khăn choàng tắm, sà rông đầy màu sắc, thổ cẩm tinh xảo, túi đeo nhỏ xinh và đặc biệt là những chiếc khăn bịt tóc đẹp mắt. Đây là một trong những địa phương còn lưu giữ được nghề truyền thống của đồng bào dân tộc Chăm.

Có một thời gian nghề dệt ở Phủm Xoài bị “chựng” lại do khó khăn trong khâu nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Một số hộ bỏ nghề dệt sang làm nghề khác. Làng dệt đứng trước nguy cơ bị thất truyền. Năm 1997, sau khi tìm hiểu nguyện vọng của bà con, Sở Công nghiệp tỉnh An Giang quyết định hỗ trợ khôi phục nghề dệt ở Phủm Xoài. Và Hợp tác xã (HTX) Dệt Châu Giang ra đời với 50 hội viên được nhận vốn vay hỗ trợ từ chương trình khuyến công của tỉnh.

Nhiều người bỏ nghề mua bán trở về với nghề dệt truyền thống. Những nghệ nhân lâu năm trong nghề tham gia cải tiến kỹ thuật sử dụng con thoi trong khung dệt thay vì quăng thoi bằng tay sang dùng bằng dây giật nên công đoạn dệt nhanh gấp 10 lần. No In, một cô gái 19 tuổi, sau khi học xong phổ thông, đã theo nghề truyền thống gia đình học may, đan, dệt thổ cẩm phục vụ cho du khách.

Cô nói: “Lương khởi điểm mỗi tháng chỉ hơn 1 triệu đồng, nhưng do sinh sống ở  quê nên cũng tạm đủ, nhưng quan trọng nhất là em được làm nghề mình yêu thích nhất và thấy thổ cẩm của người Chăm được du khách mua nhiều”. Gia  đình nghệ nhân Se Mak làm chủ 3 khung dệt trong HTX đã có thu nhập ổn định. Chị có 2 con trai đang học ở nước ngoài và cô con gái theo nghề dệt của mẹ.

Hiện nay, HTX sản xuất khoảng 160 chủng loại sản phẩm, doanh thu bình quân trên 100 triệu đồng/tháng, trong đó 65% được du khách đặt mua. Sản phẩm của HTX có mặt tại các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Mỹ, Nhật, Canada…

Trong 6 lần tham dự triển lãm “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, thổ cẩm Phủm Xoài đều đoạt giải thưởng. Đặc biệt là hai mặt hàng “Ikat vân mây” và “thổ cẩm bông dâu” đều được bán rất chạy. Chị Se Mak cho rằng: “Bí quyết nằm ở khâu nhuộm và thiết kế hoa văn. Sở dĩ du khách thích thổ cẩm Phủm Xoài vì sản phẩm được sử dụng từ vỏ cây Pahud và nhựa cây Kalék để nhuộm sợi, làm màu thổ cẩm càng để lâu càng ánh bóng, không phai”.

Làng nghề thổ cẩm Phủm Xoài hiện đang hoạt động theo mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề và tiêu thụ sản phẩm. Nghề dệt của người Chăm nơi đây sẽ duy trì lâu bền và phát triển, và hình ảnh các cô gái Chăm nở nụ cười tươi thắm bên khung dệt sẽ còn mãi với thời gian.

Lưu ý: Có nhiều tuyến du lịch cho cả du khách trong và ngoài nước tham quan Châu Phong. Trong đó có tour mang tên Homestay (ở nhà người dân bản địa) với chương trình “Trở thành một người Chăm”. Du khách sẽ được ăn, ngủ tại nhà một người Chăm, sinh hoạt, thưởng thức âm nhạc của họ, thử vài thao tác dệt lụa và những điệu múa Chăm độc đáo…

Đặc biệt là phần ẩm thực cũng thu hút nhiều du khách bốn phương với các món ăn đậm nét truyền thống của người Chăm được chế biến từ thịt bò như: cà ri bò, lạp xưởng bò; gỏi sầu đâu với vị đắng rất riêng và các món bánh Chăm như: bánh tổ chim, bánh lỗ…

Du lịch, GO!