Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Can đảm nếm cà lèng

(TNO) - Gợi sự tò mò từ tên gọi, nguyên liệu đến cách chế biến, đặc sản cà lèng của miền núi A Lưới (Thừa Thiên-Huế) khiến nhiều thực khách miền xuôi vô cùng thú vị, có phần e ngại và phải lấy hết can đảm để nếm thử một lần.

Cửa hàng bán món cà lèng - đặc sản độc đáo miền sơn cước nằm ngay trục đường chính của thị trấn A Lưới, chuyên phục vụ khách các món được chế biến từ thịt dê. Chị Nguyễn Thị Lan, chủ cửa hàng, nói: “Đối với người đồng bào, món này là món ngon, món quý. Nhưng với người miền xuôi thì không phải ai cũng ăn được. Tuy nhiên, nếu đã ăn được thì khen hết biết, ghiền luôn”.

Chất sền sệt trong ruột non

Cà lèng là chất sền sệt ở trong ruột non của những con vật ăn cỏ như trâu, bò, dê và các loài ăn cỏ khác. Trong đó, dê được ưa chuộng nhất bởi dê được cho là loài có hệ tiêu hóa cực tốt và sạch sẽ. Chất dịch nhũ tương trong ruột non là phần tinh túy nhất, là thức ăn đang được chuyển hóa chuẩn bị ngấm qua mạch máu nuôi dưỡng cơ thể, đồng thời mang vị đắng của mật, vị ngọt của protein.

Khi mổ bò, mổ dê… người ta rất cẩn trọng trong việc lấy phần ruột non. Ruột non được lấy ra ngay khi bộ lòng được mang ra khỏi ổ bụng một cách cẩn thận. Sau khi được lấy ra phải dùng lạt thắt chặt hai đầu để ngăn cách ruột non với ruột già và dạ dày. Chất nhũ tương trong ruột non không bị pha tạp. Sau đó rửa sạch sẽ và cho vào nước sôi luộc chín. Lưu ý khi luộc phải lấy vật nhọn chích vài lỗ nhỏ vào thành ruột để ruột không bí hơi và không bể chất nhũ tương bên trong ra ngoài. Lửa đun vừa phải để ruột không bị phình ra.

Luộc chừng 60 phút thì vớt ráo và cắt từng khúc ngắn. Sau đó cho lục phủ ngũ tạng đã luộc chín, băm nhỏ và cho gia vị như muối, tiêu rừng, ớt rừng, ngò gai vào trộn đều. Lục phủ ngũ tạng phải lấy từ chính con vật dùng làm cà lèng. Ví dụ, làm cà lèng từ ruột non bò thì phải lấy lục phủ ngũ tạng của bò, làm cà lèng từ dê thì lấy lục phủ ngũ tạng của dê… Đó được xem là nguyên tắc cơ bản để có món cà lèng ngon, đúng điệu.

Hương vị sẽ khác nhau đôi chút tùy khẩu vị ẩm thực từng tộc người. Với người Tà Ôi, người ta cho thêm vài giọt mật để tạo vị đắng đặc trưng, thú vị. Mật sẽ tạo vị đắng đầu lưỡi khi ăn và khi nuốt thấy đắng ở cổ họng. Nhưng khi vừa nuốt xong, vị đắng ở cổ họng sẽ chuyển sang vị ngọt.

Người Cơ Tu thì cho thêm lá chim chim, một thứ lá trên rừng có vị đắng và thơm tự nhiên. Người Pa Cô lại trộn thêm một chút búp non của cây xoài. Riêng người Kinh sống tại đây, họ thường nấu lại hỗn hợp cà lèng sau khi trộn đều với gia vị và lục phủ ngũ tạng, cho nhiều tiêu rừng và ớt rừng để đặc hơn và ít mùi hơn. Ngoài ra, người Kinh thường ăn kèm thêm rau sống và tỏi.

Đặc biệt, món này có thể dùng làm nước chấm cho những món thịt rừng nướng, cá nướng... để tăng thêm hương vị cho món ăn. Nhưng khi làm nước chấm thì người ta thường chỉ nêm gia vị cần thiết chứ không cho lục phủ ngũ tạng vào. Cà lèng càng ngon nếu uống cùng với rượu đoác, rượu mây, rượu cần…, những loại rượu truyền thống được chiết xuất từ thiên nhiên của vùng cao A Lưới.

“Món con rể”

Nhìn màu nâu nâu, sệt sệt, mùi hương lạ không dễ ngửi khiến nhiều người lần đầu có phần e ngại, không dám thử. Lấy hết can đảm, chúng tôi nếm thử một miếng, thấy vị đắng, khó nuốt nhưng đầy tò mò, thú vị. Thử thêm vài miếng tiếp theo, thấy cay, thơm mùi ngò gai, tiêu rừng. Nuốt hết thấy vị ngọt đọng ở lưỡi và cổ họng rất dễ chịu.

Ông Hồ Văn Ninh, một người nổi tiếng về ẩm thực, người Tà Ôi, trú tại xã A Ngo, cho biết mỗi khi có lễ tết, cà lèng là món không thể thiếu. Tuy nhiên, một con vật chỉ có một khúc ruột non ngắn làm được món này nên chỉ có mâm trên, mâm của các già làng trưởng bản mới có. Trong nhà, nếu có khách quý, người ta phải tới lò mổ từ sáng sớm để mua về chế biến và đãi khách. Ngày xưa, tiếp cơm con rể thường phải có món này để thể hiện sự trân trọng yêu thương. Vì thế nhiều người thường gọi món này là món con rể. “Mùi vị món này hơi lạ nhưng nó là đặc sản núi rừng, hoang sơ, lành tính. Đặc biệt dễ tiêu hóa và tốt cho bụng dạ sức khỏe. Ăn món này, uống rượu cần rượu đoác thì hết biết. Thú vị hơn, cà lèng còn có tác dụng giải rượu rất hiệu quả. Say rượu mà có bát cà lèng để ăn thì khỏe lắm…”, ông Ninh tỏ vẻ thích thú.

Cà lèng là một nét văn hóa, là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc thiểu số ở huyện vùng cao A Lưới. Nếu bạn có cơ hội đặt chân đến vùng đất này, hãy một lần nếm thử và trải nghiệm.

Theo Tuyết Khoa (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Nhớ miếng khô trâu

(DNSG) - Không ít địa danh ở miền Tây Nam bộ có thành tố “trâu”: Ngan Trâu, Đường Trâu, Xẻo Trâu, Vàm Trâu, Bàu Trâu Nằm… cho thấy vùng đất này ngày trước có rất nhiều trâu.

Cách đây khoảng 300 năm vùng đất Nam bộ ngày nay là một vùng đầm lầy, nê địa, rừng hoang cỏ rậm, nhiều thú dữ: Tới đây xứ sở lạ lùng/ Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng kinh.
Trong một lần đi điền dã vào vùng Đường Trâu của huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi được một lão nông người Khmer kể rằng: xưa ở vùng này trâu nhiều vô kể. Theo dấu chân chúng đi, nước mưa xói mòn dần thành đường.

Người dân trong các phum sóc thời đó nghĩ ra cách bẫy, bắt trâu rừng để ăn thịt. Họ chẻ bụp lá dừa nước phơi khô rồi thắt thành dây niệc cỡ cườm tay người, sau đó dùng niệc thắt thòng lọng. Gặp bầy trâu rừng thì trai tráng trong sóc tụ lại, lấy cây rượt đuổi chúng để những người lớn tuổi có kinh nghiệm cầm niệc dây chuẩn bị bắt trâu.

Những con trâu yếu nhất bầy bị tách ra khỏi đàn, lùa xuống lung bàu, rồi dùng thòng lọng tròng vào cổ chúng. Bắt được trâu xẻ thịt chia nhau, ăn không hết thì phơi khô. Khô trâu rừng để ăn dần qua mùa mưa, vừa là món để lai rai.

Cũng theo các lão nông, miếng khô trâu được thả vào nước (nhưng không dùng nước mưa vì theo kinh nghiệm dân gian thịt trâu kỵ nước mưa) ngâm một lúc rồi vớt ra để khô trước khi nướng trên bếp than.

Khi ăn, phải cạo bỏ lớp cháy bên ngoài, dùng chày đập cho mềm. Khô trâu vị ngọt đậm còn được trộn gỏi bông bần có vị chát, chua. Dân gian tin rằng ăn khô trâu rừng trị được bệnh tê thấp.

Ngày nay, những vùng đầm lầy cho trâu rừng sinh sống không còn nữa. Làng xóm đông đúc cư dân, trâu rừng đã hoàn toàn vắng bóng. Trâu nhà được thuần dưỡng ít ai làm thịt. Nếu họa hoằn có thịt trâu thì cũng không còn dư để phơi khô!

Gần đây, ở vùng Thạnh Trị (Sóc Trăng), Giá Rai (Bạc Liêu), người ta nuôi trâu lấy thịt và có làm khô để bán cho khách vãng lai. Xong miếng khô trâu ấy đã phai rồi mùi vị của ngày xưa…„

Theo T.B.X/Doanh Nhân Sàigòn Cuối tuần
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Bò viên Châu Đốc

Bò viên ở đâu cũng có. Nhưng có lẽ hiếm nơi nào có thịt bò viên ngon như ở thành phố viễn biên Châu Ðốc của tỉnh An Giang.

< Đặc sản bò viên Châu Đốc.

Ai đã từng ăn bò viên ở một nơi nào đó sẽ cảm nhận ngay cái mềm của bột cùng một ít thịt bò trộn trong đó. Riêng bò viên của Châu Ðốc thì khác, chỉ toàn thịt bò. Lý do dễ hiểu: Châu Ðốc từ xưa được xem như "xứ bò". Những năm 1950, tại núi Sam của tỉnh Châu Ðốc có chợ phiên trâu bò nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh.

Từ hàng chục năm nay, chợ bò Tà Ngáo (Tịnh Biên, An Giang) được nhiều người biết tiếng và nó càng nổi tiếng hơn khi được chánh quyền địa phương xây dựng hẳn một ngôi chợ như bất cứ ngôi chợ truyền thống nào trên đất nước ta.

Chính vì vậy mà chợ bò Tà Ngáo cũng là điểm cuốn hút khách du lịch những khi đến tham quan mảnh đất bán sơn địa của tỉnh An Giang, nhất là trong dịp lễ hội đua bò Bảy Núi diễn ra vào lễ Ðôn-ta của đồng bào Khmer.

Bò từ chợ bò Tà Ngáo được các thương lái vận chuyển về Châu Ðốc. Thành phố viễn biên này có nhiều món ngon làm từ bò như: lòng bò luộc, bò cuốn lá lốt, lẩu bò, nổi tiếng là bò xào lá giang được các quán bên chân núi Sam phục vụ suốt ngày.

Nhưng hiếm ai biết món bò trứ danh của Châu Ðốc lại là bò viên. Không như bò viên nhiều nơi khác, bò viên Châu Ðốc lớn khoảng trái bóng bàn. Những viên thịt bò cuốn hút bởi màu hồng lợt của thịt bò nguyên chất, nổi loằng ngoằng trên đó những sợi gân bò và màu đen của những hột tiêu điểm xuyết một cách gọi mời.

Món bò viên Châu Ðốc chiên được chế biến đơn giản nhưng không gì sánh bằng. Từng viên bò để nguyên hoặc chẻ làm đôi, làm tư thả vào chảo dầu sôi trên bếp lửa chiên vàng. Xiên từng miếng bò viên chấm vào tương ớt trộn tương cà, cắn miếng nào đã đời miệng lưỡi miếng nấy. Nhưng khi chấm mù-tạt vàng, mùi vị miếng ăn sẽ được nâng lên một cách khác thường.

Ngon hơn, là món bò viên xốt cà. Món nầy chấm muối tiêu chanh. Vị chua ngọt của xốt cà, vị béo ngọt của thịt bò làm đê mê đầu lưỡi khiến bữa ăn thêm ngon miệng. Riêng bữa nhậu quây quần vài ba bạn hữu thì món bò viên xốt cà càng làm tình nghĩa anh em thêm thắm thiết.

Món không thể thiếu là lẩu bò vò viên. Ðể món ăn đúng điệu, hợp khẩu vị, người ta mua thêm lòng bò, nạc, gân, nạm, gầu... cùng một ít ngò gai. Nấu nồi nước lèo, cho tất cả các thứ vào, nêm nếm vừa ăn, nhắc xuống, rắc ngò gai xắt nhỏ, múc ra tô đã sắp sẵn bánh hủ tiếu hoặc bánh phở, chan tương xay, nặn chanh, trộn đều. Cả nhà quây quần bên nhau thưởng thức những miếng thịt bò, lòng bò... nóng hổi trong vòm miệng sao mà ngon vậy!

Bí quyết để bò viên Châu Ðốc ngon là nhờ thịt bò mới xả còn nóng hổi, mua về thấm khăn sạch máu, lóc miếng cho vào cối quết. Quết tay xong, đập đến khi đủ độ thì vò viên. Cho nên, ăn bò viên Châu Ðốc là ta hân thưởng sự mềm mại, mịn màng, dai dai, xừn xựt của những miếng ngon nhớ đời.

Theo Phương Kiều (Báo Cần Thơ), ảnh internet
Du lịch, GO!

Món bì bún Giồng Luông

(BĐK) - Chợ Giồng Luông (Đại Điền, Thạnh Phú) có nhiều đặc sản. Và đặc biệt, bàn tay khéo léo của các bà, các chị đã làm nên nhiều món ngon “trên cả tuyệt vời”.

< Tô bì bún Giồng Luông.

Món bì bún chợ Giồng Luông ngon đến mức có người thuê nguyên một cỗ xe ngựa, đi từ Giồng Miễu lên, khoảng hai chục cây số, chỉ để ăn bì bún và mua một ít mang về cho gia đình thưởng thức. Người làm món bún bì tuyệt vời này là bà Bảy Nhái. Hiện nay, món này vẫn còn được kế tục bởi tài năng của con cháu bà Bảy.

Đã là “bún bì” thì đầu tiên phải nói là món “bì”. “Bì” đây chính là da heo thái nhuyễn như sợi bún. Bún là bún gạo ngon, dẻo, hương vị đậm đà. Thịt heo ba chỉ ram lên, miếng thịt săn chắc, ăn vào miệng là “nhớ đời”. Nước mắm pha sao cho ngon? Đây là bí quyết gia truyền, là tay nghề của gia đình bà Bảy.

Chỉ biết rằng, nước mắm pha sao cho ớt nổi đều, không bị chìm, nếm vào ngọt dịu. Có người ăn xong đã không ngần ngại rinh cả tô nước mắm mà húp “soạt”, hết hẳn. Rau cũng phải đủ hương vị, mới khoái khẩu.

Tôi nhớ lần được các anh trong UBND xã Đại Điền đãi bì bún, do gia đình bà Bảy làm. Trong buổi đi hôm ấy, khoảng năm 2010, có anh Trung Dương, anh Phong Hải… những người con của đất Thạnh Phú, quê Giồng đã cùng với các anh kỳ cựu như: anh Lượng, anh Thanh Nguyên, anh Kiến Thức rươm rướm nước mắt, ăn tô bì bún mà nhớ về đất giồng xe ngựa. Và, anh Lượng đã đọc thơ Bà Huyện Thanh Quan: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”…

Đất là thế, đặc sản là thế! Những người con của đất giồng quê xe ngựa lớn lên và có những đóng góp cho xã hội, ngồi nhắc lại ngày xưa để làm nền cho cuộc sống tươi đẹp hôm nay.

Theo Biển Mặn (Báo Đồng Khởi)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Về Đất Tổ thưởng thức món ngon

(Eva) - Phú Thọ không chỉ là mảnh đất thiêng của nguồn cội mà ở đó còn sản sinh ra nhiều đặc sản hấp dẫn biết cách níu chân người.

Phú Thọ là mảnh đất thiêng liêng của cội nguồn dân tộc Việt Nam với hàng ngàn năm lịch sử, nơi khởi nghiệp 18 đời vua Hùng, mảnh đất được coi là văn hiến và văn vật với nền văn minh nông nghiệp từ thuở bình minh dựng nước.

Không chỉ có thế, mảnh đất trung du này cũng là nơi sản sinh ra những thứ đặc sản thơm ngon, hấp dẫn, ai đến chơi lỡ nếm một lần rồi cứ bâng khuâng mà thương mà nhớ.

Chè

Nếu du khách thích đến Sapa để trải nghiệm không khí lạnh lẽo mập mờ sương khói, cái cheo leo của những con đường men theo sườn núi hay những mảnh ruộng bậc thang nối tiếp trùng điệp nhiều màu sắc của mùa lúa chín thì chắc chắn đến với Phú Thọ, người ta sẽ bị mê mẩn và lôi cuốn bởi những đồi chè xanh mướt, non tơ. Những hàng chè cứ quẩn quanh, ôm ấp, bao trùm lên những ngọn đồi đất đỏ, uốn lượn rất tự nhiên nhưng đó thực sự là một kiến tạo của con người.

Không chỉ chè sấy khô mới được ưa chuộng mà thứ chè xanh tươi mát cũng được sử dụng như một thứ nước uống thường ngày. Mùa hè hay mùa đông, được nhấp một ngụm chè xanh trong thì chẳng ai có thể chê được.

Sản phẩm chè - đặc sản Phú Thọ - khá đa dạng, ngoài chè đen, chè xanh là chủ đạo bước đầu đã có sản phẩm chè ô long, chè lipton, chè ướp hương… được xuất khẩu ra thế giới. Đến đây, với nhiều loại chè phong phú như vậy, bạn có thể tha hồ thưởng thức loại nào mình thích.

Quả cọ

Người ta chỉ biết đến cây cọ mà ít biết rằng, trái cọ cũng là một thứ quà ngon và là đặc sản của mảnh đất này. Khi những cơn gió đầu mùa se lạnh bắt đầu dập dìu bên những sườn đồi cũng là lúc quả cọ chín già, đen bóng, sai lúc lỉu từng chùm, đung đưa đón mùa về. Khi ấy, người dân thường đi hái quả, thứ quả mang vị bùi, chát được lắng đọng qua mưa và nắng gió trung du.

< Khi những cơn gió đầu mùa se lạnh bắt đầu dập dìu bên những sườn đồi cũng là lúc quả cọ chín già, đen bóng, sai lúc lỉu từng chùm.

Quả cọ được hái về rửa sạch bụi đất rồi đem làm ỏm. Khi om cọ phải chú ý thời gian cho phù hợp với độ sôi của nước, nếu không khéo cọ sẽ bị tóp lại, cứng chát không ăn được. Thế nên om được một mẻ cọ ngon là phải khéo léo, kỳ công.

Quả cọ khi đã om có màu nâu sậm, lúc om xong dầu cọ nổi như váng mỡ bám quanh nồi, bóp vào mà quả thấy mềm, cho màu vàng ươm là ngon nhất.

Người ăn cọ sành là người biết chọn cho mình những quả cọ tròn, cùi dầy có màu vàng như mật ong, khi nhấm nháp còn thấy bùi, ngọt béo ngậy, thơm đặc, dẻo dính ở răng thì đó chính là loài cọ nếp quý.

Cọ om chấm với nước mắm là ngon nhất thế nhưng tùy thuộc khẩu vị từng người có thể thay bằng bột canh hay tương ớt, muối lạc, muối vừng…

Ngoài cọ ỏm, người ta còn làm dưa cọ muối, xôi cọ. Thậm chí là cơm nắm với lá cọ… Dù là món ăn gì đi nữa thì cây cọ vẫn luôn mang cái hồn và thần thái của người người vùng đất trung du này.

Thịt chua

Cũng là một loại thịt thính giống như nem chua Thanh Hóa, nem nắm Nam Định, nem Phùng, nhưng thịt chua Phú Thọ có sự khác biệt về hương vị. Đây là món ăn gốc của người Mường trên mảnh đất Thanh Sơn nhiều đồi núi. Nhưng bởi sự thơm ngon đặc biệt được ưa thích nên thịt chua đã lan truyền sang nhiều vùng khác trong tỉnh, khiến món ăn ngày càng trở nên nổi tiếng và trở thành một thứ đặc sản quà tặng đặc sắc nơi đây.

Thịt chua - đặc sản Phú Thọ - có cách làm khá đơn giản nhưng để có một lọ thịt chua hấp dẫn và đạt yêu cầu lại là cả một nghệ thuật, và nó thể hiện qua sự chọn lọc kỹ càng để có các nguyên liệu tốt nhất cũng như quy trình thực hiện chính xác, nghiêm ngặt. Bởi thế, dù nhiều nơi cũng có món thịt chua nhưng chỉ ở Thanh Sơn – Phú Thọ người ta mới tìm được thứ hương vị mà mình thích nhất.

Bí quyết tạo nên thành công cho món thịt chua chính là ở khâu rang thính. Thính rang phải đảm bảo yêu cầu chín kỹ, dậy thơm, vàng và không được để cháy. Sau khi được trộn đều với thính, thịt được cho vào ống bương, ống tre để chứa đựng (tuy nhiên, hiện nay để tiện cho thương mại hóa sản phẩm người sản xuất thường dùng lọ nhựa). Lót lá ổi xuống dưới dụng cụ chứa đựng thành một hai lớp, lèn thật chặt thịt vào trong và phủ vài lớp lá ổi lên lớp thịt trên bề mặt dụng cụ chứa đựng, nén chặt bằng một vài nẹp tre gài chéo.

Thịt chua ăn ngon nhất khi thưởng thức cùng với lá ổi, lá sung, đinh lăng, lá mơ tam thể, lộc vừng, nhội, rau thơm… Chỉ cần cho một miếng thịt chua thơm phức vào những chiếc lá này cuộn lại, chấm với tương ớt cay cay rồi thả vào miệng nhai chậm rãi. Đơn giản bấy nhiêu thôi mà thực khách có thể thưởng thức được bao nhiêu hương vị chua, ngọt của thịt, thơm của gia vị, và cả sức sáng tạo tài tình trong ẩm thực của con người. Nếu một lần đến mảnh đất Trung du mưa nắng thuận hòa này nhất định bạn phải nếm thử món thịt chua, và có lẽ sự hấp dẫn của thứ thịt là này chính là sợi dây níu bao lữ khách, đi rồi vẫn muốn trở lại đầy luyến tiếc.

Bánh tai

Chẳng rõ từ bao giờ món bánh tai nổi tiếng lại xuất hiện ở thị xã Phú Thọ, món bánh làm nức lòng bao khách phương xa thưởng thức. Nghe nói, bánh tai trước kia được gọi là bánh trai vì bánh được nặn theo hình con trai, sau đó được gọi tắt là bánh tai. Bánh được làm vẫn những nguyên liệu đó nhưng dài hơn và nặng hơn.

Để làm được chiếc bánh tai ngon thì trước tiên là phải chọn được loại gạo tẻ ngon, trắng, dẻo, đây là khâu quan trọng quyết định đến chất lượng của chiếc bánh tai. Xong rồi đến kỹ thuật làm bánh, nhân bánh. Qua những bàn tay nhào nặn tài tình, những bí quyết gia truyền riêng, những chiếc bánh tai nóng hổi đã ra lò thơm mùi bột quyện trong mùi thịt, hành ngây ngất.

Ở nơi đây, bánh tai là thứ quà sáng rất đặc biệt bởi nó dễ ăn, lại lành tính. Khi ăn, phải nếm chậm rãi, cắn từng miếng nhỏ mới có thể cảm nhận hết được hương vị trong từng miếng bánh. Thưởng thức xong rồi mà mùi thơm của bánh vẫn còn phảng phất đâu đây mãi chẳng rời.

Bưởi Đoan Hùng

Đến với mảnh đất Phú Thọ linh thiêng của tổ tiên, lữ khách còn được thưởng thức đặc sản trái cây của nơi này. Đó là bưởi Đoan Hùng. Đã từ lâu giống bưởi này không chỉ nổi tiếng tại quê hương mà còn nức tiếng khắp Nam Bắc xa gần.

Đến đây, ai cũng muốn tìm mua cho mình vài trái bưởi để thưởng thức và đem làm quà biếu. So với các loại bưởi nối tiếng khác trong cả nước như bưởi Da xanh, bưởi Năm Roi, bưởi Diễn thì bưởi Đoan Hùng có chút khác biệt. Bưởi có quả hình cầu dẹt, quả chưa đầy 1 kg, chín màu vàng sáng, vỏ hơi héo, cùi mỏng, múi ráo, tôm mọng nước, màu trắng ngà, đặc trưng bởi hương vị thơm, ngon, ngọt, mát.

Giống bưởi ở đây còn quý ở chỗ, có thể bảo quản được vài tháng đến nửa năm, khi bổ ra, ăn vẫn ngọt, ngon như thường. Ngoài kỹ thuật trồng ra, có lẽ, bưởi Đoan Hùng còn ngon và nổi tiếng nhờ thiên nhiên ưu đãi, nằm trên khu vực ngã ba sông của con sông Lô và sông Chảy, quanh năm phù sa bồi đắp. Cùng những chất đất đặc biệt ở các khu vườn này. Chính vì thế, dù ai đó có cố gắng xin giống bưởi này về trồng thì hương vị cũng vẫn thua xa vài bậc.

Ở Đoan Hùng, bưởi của xã Chí Đám và Bằng Luân là ngon nhất. Chỉ một lần nếm miếng bưởi với tép bưởi trắng, mềm mọng nước và ngọt lịm, thơm ngây ngất khiến ta tưởng chừng như vị bưởi như đang tan vào tận ruột gan, da thịt.

Rau sắn

Nhiều thực khách chỉ quen thưởng thức củ sắn trắng thơm, bở, bùi mà ít ai biết rằng rau sắn cũng là một đặc sản. Và chính ở mảnh đất trung du này đã biến thứ rau dân dã ấy thành những món ăn tuy không sang trọng nhưng ngon và ấn tượng. Để chế biến thành các món khác nhau, trước tiên rau sắn được hái về đem muối chua giống như bạn làm dưa cải vậy nhưng công đoạn có sự khác biệt.

Rau sắn muối ngon thì phải biết chọn nguyên liệu. Những búp sắn non mập mạp còn nguyên lớp phấn mịn phía đầu chồi, hái về ngâm qua nước cho bớt nhựa rồi được vò nát. Người vò phải khéo léo làm sao cho lá sắn mềm, sóng đều nguyên búp chứ không vụn thành từng đoạn.

Sau khi vò xong, trộn lá sắn với chút muối cho thêm vị đậm đà. Cách này cũng giúp cho rau sắn nhanh chua hơn và để lâu ngày không bị hỏng, bị váng. Bởi vậy khi thêm muối cũng phải lựa sao cho rau không quá mặn mà khó nấu, cũng không quá nhạt để nổi váng, rau dễ bị hỏng. Rau sắn sau khi đã trộn muối đem cho vào vại hoặc bình, để 4 đến 5 ngày ủ chua.

Rau sắn muối có màu vàng đều, dậy mùi thơm hấp dẫn và tưởng chừng như dù có thưởng thức bất cứ món ngon nào cũng không thể quên hương vị món dưa sắn.

Từ thứ dưa rau sắn này, người ta có thể xào, nấu canh cá, làm nộm (gỏi), kho cá… Mỗi món ăn mang một hương vị thân thương của gia đình, của tình yêu quê hương của những người con xa quê khi nhớ về. Bao thực khách đến đây, dù sang trọng hay bình thường cũng đều bị thứ hương dưa sắn quyến rũ. Những bát canh cứ đầy lại vơi, những món xào chỉ hết trong nháy mắt… thật thích thú biết bao.

Rêu đá Thanh Sơn

Thanh Sơn là mảnh đất rộng và có lẽ là nhiều đồi núi nhất của Phú Thọ. Nó cũng là nơi sản sinh nhiều món ăn ngon, độc đáo. Bên cạnh món thịt chua đặc sắc, còn có món rêu đá mà không phải ai cũng biết đến. Nói đến rêu đá - đặc sản Phú Thọ, nhiều người sẽ nghĩ rêu làm sao mà ăn được, nhưng thực tế, đến với một số xa như Đồng Sơn, Thu Cúc, Thượng Cửu... của huyện này, khách được quý lắm mới được người nơi đây mời, đãi món này. Nó được coi như là một thứ rau sạch của những người vùng cao.

Khi rêu được lấy về, làm sạch sẽ được đem tẩm ướp gia vị. Đó là tỏi thái mỏng, muối, mì chính, cộng thêm hành và chút mỡ lợn rồi trộn đều, dùng lá đu đủ (hoặc lá dong) gói thành nhiều lớp buộc chặt lại. Lớp lá đu đủ bén lửa bốc lên mùi cay cay, thơm thơm. Đợi đến khi những lá đu đủ bên ngoài chuyển thành màu đen, họ mới bóc từng lớp lá ra để thưởng thức. Mùi tỏi và hành quyện với mùi nồng nồng của rêu đá tạo nên một hương vị rất riêng biệt và khó quên.

Thông thường món ăn này được làm vào buổi tối vì đó là lúc có mặt đông đủ mọi thành viên trong gia đình.

Theo Eva.vn
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

Lai rai lẩu nướng vỉa hè đất cảng

(TTO) - Đất cảng buổi tối mùa đông lạnh, được cùng bạn bè người thân quây quần bên bếp than hoa ấm nồng, xuýt xoa thưởng thức món lẩu nướng thì không còn gì thú vị bằng.

Không biết món lẩu nướng được khai sinh ra ở đâu, từ bao giờ nhưng còn nhớ một vài năm trước, khách du lịch khi đến Sa Pa đã bị cuốn hút bởi một dãy phố ẩm thực chuyên về đồ nướng gần nhà thờ Đá. Chỉ cần đặt chân đến khu ẩm thực này đã thấy dậy lên mùi thơm của các món ăn, từ rừng đến biển.

Rồi rất nhanh chóng, món ăn này đã trở nên phổ biến ở miền xuôi, nhưng có lẽ thích hợp và thú nhất vẫn là những ngày mùa đông nên các quán nướng vỉa hè thời gian này lúc nào cũng đông khách đến thưởng thức.

Ở Hải Phòng, các quán lẩu nướng vỉa hè cũng có đầy đủ những món ăn phù hợp với khẩu vị từng thực khách, từ cánh gà, thịt bò… nướng đến các loại rau củ. Có lẽ cũng chính vì thế mà món ăn bình dị, dân dã này đã ngày càng thu hút nhiều thực khách, không chỉ các đấng mày râu ưa lai rai mà cả cánh chị em phụ nữ thích không khí ấm cúng, vui vẻ.

Thoạt trông, món lẩu nướng có thể dễ chế biến vì chỉ cần tẩm ướp gia vị, đặt lên bếp than hồng là đã có thể thưởng thức được rồi. Nhưng thật ra món ăn trở nên ngon miệng, hấp dẫn chính là ở cái tẩm ướp và gia vị cho vào món nướng phải vừa đủ. Mỗi món ăn lại phù hợp với một loại gia vị riêng. Chẳng hạn, thịt bò thì được ướp mật ong và ngũ vị, mực tươi và các loại hải sản khác thì có thể ướp sa tế…

Khi nướng, nhất thiết phải phết thêm chút bơ hoặc dầu ăn lên vỉ nướng. Như thế món nướng sẽ không bị khô, dai, dễ cháy. Và quan trọng hơn là người nướng phải trở đều tay, canh lửa nhỏ thì đồ ăn mới chín đều, thơm ngon.

Một điều thú vị khi thưởng thức món ăn nào sánh được đó là mùi thơm tỏa ra từ món ăn. Ở những quán ăn này, bạn có thể dễ thấy được cảnh khói bốc nghi ngút, mùi thức ăn tỏa ra ngào ngạt và thực khách thì vừa hì hục nướng, vừa… nhai. Quả là không phù hợp với những người ưa thanh cảnh! Nhưng bù lại, đảm bảo bạn sẽ có một bữa ăn đậm đà, lạ miệng mà giá cả lại rất phải chăng.

Món nướng có thể được ăn riêng hoặc cuộn thêm rau sống, khế chua, cà rốt, chuối xanh… tùy từng khẩu vị từng người. Thức ăn vừa dậy mùi, chín tới, gắp ra đĩa, gói cùng với các loại rau quả rồi chấm với nước xốt, chỉ cần đưa lên đã thấy mùi thơm tỏa ra. Cắn một miếng nhỏ, vị chua của khế, chát của chuối xanh sẽ làm thịt cá bớt ngấy, chỉ cảm nhận được vị đậm đà, ngọt lịm của thức ăn lan tỏa đầu lưỡi.

Ăn món nướng, thực khách cũng không ăn theo kiểu “nhàn tản” được, phải vừa ăn, vừa nhanh tay đảo thức ăn trên bếp nướng kẻo quá lửa. Cũng bởi món nướng “khó tính” hơn các món ăn khác, phải ăn ngay sau khi gắp ra từ bếp nên phải vừa ăn, vừa chế biến, nếu để nguội sẽ mất ngon đi nhiều lần.
Người ta bảo món nướng là món ăn của mùa đông là vậy!

Bởi thế, nếu còn ngại mùa đông rét mướt không tụ tập cùng bạn bè, người thân ăn uống thì hãy chọn một quán lẩu nướng nào đó để ngồi lai rai. Trời càng lạnh, món ăn này sẽ càng khiến bạn cảm thấy ngon miệng hơn… Biết đâu hương vị đậm đà của món ăn, không khí ấm cúng của hàng quán sẽ khiến mọi người thêm xích lại gần nhau.

Theo Trần Trung (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Bún ngao Hải Phòng

(NSO) - Hà Nội không khó để kiếm một quán ăn có đặc sản đất Cảng nhưng quán bún ngao trên đường Quang Trung thì đến người Hải Phòng gốc cũng mê.

< Bát bún ngao cá đầy đặn, bắt mắt, chuẩn vị đồ ăn đất Cảng.

Một sáng mùa đông, ra đường sớm một chút, tạt vào hàng bún ngao lạ lạ trên con phố Quang Trung (Hà Nội) rộng rãi, bạn sẽ được thưởng thức rất nhiều món bún, miến, bánh đa đặc biệt đậm chất Hải Phòng mà ăn một lần rồi thì quay trở lại lần hai, lần ba là chuyện thường tình.

Nếu là lần đầu thưởng thức, hãy gọi một bát bún ngao - thương hiệu đã làm nên tên tuổi của quán. Bún cá, bún gà, bún ngan đã quá quen thuộc rồi nên không ít người sẽ tò mò bún ngao trông như thế nào. Ngay khi bát được bê ra, bạn sẽ không khỏi trầm trồ vì độ bắt mắt vừa quen vừa lạ của bát bún. Những con ngao được chiên sơ để có màu vàng đẹp mắt được bày trên cùng, xung quanh là dọc mùng, giá trần, hành lá thái nhỏ và cả những miếng chả cá vàng ươm kích thích vị giác.

< Chả cá chiên vàng ươm hút mắt là nguyên liệu không thể thiếu trong bát bún hải sản của người Hải Phòng.

Nước dùng được làm từ nước luộc ngao, chế thêm nước hầm xương nên có vị ngọt thanh đặc trưng, xì xụp húp trong tiết trời giá rét thì còn gì bằng. Với một người ăn khỏe sẽ chẳng mấy khi bỏ sót cọng bún hay thìa nước nào bởi sự vừa miệng và thơm ngon của tô bún do chính tay cô chủ quán gốc Hải Phòng chế biến.

Nếu thấy đơn điệu, bạn có thể gọi bát bún ngao tôm hay ngao cá cho thêm phần đã miệng. Mỗi bát như vậy sẽ được thêm kha khá cá lọc xương thái miếng nhỏ chiên giòn hoặc vài con tôm to bằng ngón tay cái được bóc vỏ sạch sẽ. Sự kết hợp nào cũng ngon, cũng tạo nên cái thú riêng cho bát bún hải sản cung cấp đủ dưỡng chất cho cả ngày dài.

< Bánh đa tươi được cô chủ tiết lộ lấy trực tiếp từ Hải Phòng lên chứ nhất quyết không dùng bánh đa của vùng khác.

Cô chủ cũng tiết lộ toàn bộ nguyên liệu được chuyển tươi sống từ Hải Phòng lên và chế biến trong ngày, ít khi có tình trạng lưu sang ngày hôm sau. Nhất là sợi bánh đa tươi cho món bánh đa cua chính hiệu. Bánh đa Hải Phòng phải là loại sợi to, khi ăn thì mềm và cảm nhận rõ vị thanh mát, ăn mãi không ngấy. Ngoài ra, bát bánh đa cua của người Hải Phòng cũng không thể thiếu vài miếng chả lá lốt hoặc chả lá xương sông, ăn vừa thơm vừa thêm đậm đà.

Bên cạnh đó, thực đơn quán còn có các món miến cũng hấp dẫn không kém. Nào là miến trộn tôm, miến trộn ngao tôm, miến trộn tôm cá. Thích ăn thanh cảnh thì bạn có thể gọi một tô miến trộn tôm, đơn giản mà no tới trưa.

< Miến trộn tôm chẳng thua kém gì các món miến trộn quen thuộc của người Hà Nội.

Miến được trần vừa chín tới để sợi mềm mà không nát, bên trên bày rau cải xanh cắt khúc, hành khô, mộc nhĩ thái nhỏ, giá đỗ và 5-6 con tôm chiên vàng ươm. Phần gia vị trộn cũng được chế biến theo công thức riêng mà nếu không phải là đầu bếp đất cảng thì khó lòng nắm được. Tất cả khi được trộn đều, đưa lên miệng miếng nào là xuýt xoa miếng ấy vì hương vị khác hẳn với các món miến trộn quen thuộc ở Hà Nội, ngon mà không ngán.

Giá cả thì cũng rất phải chăng, chỉ từ 30.000 đến 35.000 đồng cho một tô bún hoặc miến. Chấp nhận được phải không với chất lượng thì ổn trong thời kỳ bão giá như này lại nằm trên con phố lớn nữa chứ. Trên vỉa hè cũng tha hồ chỗ để xe, vừa không mất tiền gửi lại yên tâm trông chừng chẳng mất đi đâu được.

Quán mở cửa từ 6h30 đến 14h30 thôi nhé, buổi tối không bán đâu. Nếu muốn được đắm mình trong món đặc sản chính gốc Hải Phòng hãy ghé qua 39 Quang Trung, Hà Nội.

Theo Ngôi Sao
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Cơm gà Tam Kỳ, miếng ngon nhớ mãi

(VnExpress) - Mảnh đất Quảng Nam nắng gió sản sinh ra món gà thịt chắc da mỏng, ăn kèm lát gừng cay, chút hành tím và cơm nấu nước dùng gà ngậy thơm.

Qua Tam Kỳ (Quảng Nam) là đến với xứ sở của món cơm gà. Không rõ món cơm gà nổi tiếng từ lúc nào, nhưng thương hiệu cơm gà bà Luận thì đã có tiếng hơn 50 năm qua. Dù có đến cả chục nhà hàng mọc lên trong thành phố này, song người đi trên quốc lộ 1A cũ đa phần dừng lại với cơm gà bà Luận. Nếu bạn không biết địa chỉ cụ thể, có thể hỏi bất cứ ai trên phố cũng được hướng dẫn tận tình. Còn nếu bạn muốn ăn dân dã hơn, có thể tạt qua những quán hàng trên phố để thưởng thức.

< Một phần cơm gà xé khoảng 40.000 đồng. Bạn có thể ăn những phần khác rồi gọi thêm cơm.

Quán cơm gà xây khang trang với nhiều phòng riêng. Thực đơn có khá nhiều món với nguyên liệu chính là gà. Nếu thực khách không thích ăn cơm, có thể gọi riêng phần gà chặt, gà chiên nước mắm hay gà xào sả ớt… Nếu so với các món ăn dân dã của đất Quảng thì giá ở quán cơm này đắt hơn đôi chút.

< Cơm gà Tam Kỳ ấn tượng với món dưa góp chua chua giòn giòn.

Một đĩa hành muối được đưa ra thật bắt mắt. Trên đĩa là những củ hành tím và đu đủ ngâm. Củ hành không hăng mà ăn ngọt, giòn tan. Tiếp đến là đĩa gà xé trộn cùng rau thơm với màu vàng béo ngậy và cuối cùng là bát nước dùng thơm mùi lá dứa cùng một đĩa rau ăn kèm. Phần cơm gà nóng hổi thơm phức hấp dẫn, nhìn đã muốn ăn ngay.

Cơm gạo mới được nấu bằng nước luộc gà, hạt cơm bóng mượt. Nguyên liệu chính là gà Tam Kỳ chính hiệu, loại gà thả trong sân, vất vả tìm thức ăn nên thịt chắc, da mỏng. Gà luộc chín, thịt săn mà vẫn mềm, thơm ngọt. Cơm nấu chín kèm thịt gà, xung quanh là những món gia vị và đặc biệt không thể thiếu bát mắm tỏi mang hương vị mặn mòi của biển.

Đĩa cơm gà Tam Kỳ được bưng ra với đủ màu sắc bắt mắt. Màu vàng nghệ của cơm, màu ngà của thịt gà, màu đỏ của ớt, màu xanh của đu đủ, rau răm, màu tím của hành củ, tất cả đều là sản vật của địa phương. Đĩa cơm ngon chứa đựng cả tinh hoa của mảnh đất Quảng Nam.

Theo Lam Linh (VnExpress)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Rủ nhau ăn năn!

(SGTT) - Thứ cỏ, một thời gây ám ảnh về những vụ mùa thất bát của nhà nông, miệt tây sông Hậu, nay đã lên hàng đặc sản. Hỏi anh Cao Trung Kiên, thổ địa ở đây, có thường ăn năn không. Anh nói tỉnh bơ: “Ít tui không ăn. Nhiều tui mới ăn!”

Ngon chân phương

Cây cỏ năn (Eleocharis) thuộc họ cói, thường mọc ở những vùng đất phèn trũng. Khu vực tây Nam bộ, nó có mặt nhiều ở Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Phổ biến, có hai loại năn: kim (thân nhỏ) và bộp hay tượng, lớn bằng đầu đũa. Loại sau, có thể ăn tươi hoặc làm dưa chua đều ngon lạ.

Món trước tiên là trộn gỏi với gà ta thả rong. Thịt gà ngọt thơm, còn rau năn ngọt thuần phác, càng ăn càng ghiền. Kế nữa là món lẩu mắm thập cẩm, nhúng nhiều rau dại đồng bưng như bông súng, đọt choại... Tất nhiên, không thể thiếu đọt năn.

Dân sành ăn ở xứ Dạ cổ hoài lang quả quyết rằng, thiếu thứ rau chân dính phèn ấy, cặp đôi rau – mắm sẽ bớt nồng nàn ngay!

Mùa mưa, dân bản địa ở Bạc Liêu hoặc Sóc Trăng thường rủ nhau đi “bứt đọt năn”. Đặc biệt ở chỗ, ý họ đang nói đến phần gốc năn, dài khoảng 2 – 3 lóng tay, non trong, kiểu như khai thác cây bồn bồn.

Thoạt nhìn, đoạn này vàng sậm màu phèn. Thế nhưng, lột bỏ lớp vỏ xấu xí bên ngoài, sẽ lộ ra một màu trắng nõn nà, tựa trứng gà bóc. Nhai thử, rau có vị ngòn ngọt, thoảng mùi ngai ngái của phèn mặn và khói đốt đồng.

Gặp thời rau dại đang lên ngôi, nên nhiều nông dân nghĩ ra cách dưỡng thứ rau giàu phong vị đồng quê này, nhằm tìm lối thoát thay cây lúa.

Nhiều triển vọng cho... ăn năn

Theo ông Trần Văn Mành ở ấp Mỹ Lộc, xã Mỹ Bình, huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, ăn chắc lời 20 triệu đồng/mẫu ruộng năn bộp. Chưa kể, số cá đồng tụ tập, cũng bỏ túi thêm từ 10 – 15 triệu đồng/năm. Do vậy, ông Mành “sống khoẻ” từ năm 2008 đến nay, nhờ 2 hecta cỏ năn. Trước đó, ông sạ lúa Tài Nguyên, 1 vụ/năm; “lỗ sặc máu”, ông nói.

Cách dưỡng năn khá đơn giản: giữ đủ nước và 3 – 4 tháng rải khoảng 100kg phân chuồng hoai mục mỗi hecta. Cứ vậy, chủ ruộng ăn năn dài dài, từ tháng 5 âm lịch đến tết Nguyên đán.

Sang mùa khô, năn gửi củ lại trong đất, đợi sa mưa, chúng lại đâm chồi. Củ năn rang vừa chín, là món ăn chơi ưa thích của dân Cửu Long, khoảng 30 – 40 năm trước.

Cũng ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng còn có mô hình 1 vụ năn + 1 vụ lúa. Từ tháng 4 đến giữa hoặc cuối tháng 10 âm lịch năn giành chỗ trên đồng ruộng. Sau đó, mới tới phiên lúa Tài Nguyên mọc. Tổng diện tích vùng này khoảng 60 – 70ha, theo phòng kinh tế huyện này.

Tương tự, một phần của cánh đồng Chó Ngáp thuộc hai huyện Hồng Dân và Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, đã có nhiều hộ chuyên canh năn hoặc để nó mọc xôi đậu cùng cây lúa.

Bên cạnh đó, kỹ sư Trần Minh Thành, chuyên nghiên cứu về phân vi sinh, ở huyện Bình Chánh, TP.HCM nhận định: “Cỏ năn giúp giải độc nước, hút chất bài tiết từ tôm hiệu quả và cho bã hữu cơ tạo chuỗi vi sinh có lợi, trong mô hình nuôi tôm sạch”. Với năn (spikerush) tám tuần tuổi, theo một nghiên cứu của đại học Florida, giàu sắt và đặc biệt là kẽm, đến 16 tuần tuổi, sắt và kẽm giảm mạnh.

Theo Tấn Tới (Sàigòn Tiếp Thị)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Tép trấu đồng lũ chiên giòn

(SGTT) - Vào mùa nước lũ từ tháng 8 cho đến cuối tháng 11, ở đồng bằng sông Cửu Long, cá tôm trong môi trường thiên nhiên phong phú, nhiều vô kể. Ngoài đặc sản cá linh nổi tiếng cùng với cá rô, cá lóc, rùa rắn, cua ốc phổ biến; còn một loại “nhà nghèo” dễ kiếm: tép trấu, còn gọi là tép mòng, tép rêu, tép rong.

Tháng 9, mưa dầm sùi sụt, trời âm u suốt ngày, khiến tôi chợt nhớ thuở còn bé dưới quê miền Tây. Mẹ và chị tôi cùng một tay lưới mùng mắt nhỏ, đội nón lá, ra đồng nước ngập trắng xoá sau nhà kéo lưới bắt cá đồng và tép trấu.

Chỉ chừng hai tiếng, mẹ và chị về với một thau cá trắng (loại cá nhỏ) và rất nhiều tép trấu. Tép trấu thường dính trong rong rác, cả nhà xúm xít nhau lựa sạch cá, tép. Tép trấu chiên bột ăn với bún, cải xanh, rau sống như bánh cống, bánh xèo là món ngon dân dã, độc đáo mà người thị thành ăn còn phải mắc mê!

Gạo cũ ngâm nước chừng hai giờ đồng hồ, xay bằng cối đá với độ đậm đặc giống như bột chiên bánh xèo. Pha loãng thêm bột mì tinh với tỷ lệ 6/4. Đập thêm hai trứng vịt khuấy đều (bỏ lòng trắng). Rồi tép trấu, hành lá xắt hột lựu, hành tím xắt nhuyễn, muối, đường, hạt nêm, trộn đều trong bột.

Bắc chảo dầu lên bếp phi hành tỏi, dùng muỗng to múc hỗn hợp bột có lẫn tép chuồi nhẹ vào chảo. Khi thấy bánh bột trở màu vàng rơm lên hương thơm là chín. Làm nước mắm chua bằng ớt sừng trâu chín đâm nhuyễn với tỏi, giấm hoặc chanh pha với mắm ngon và nước ấm, nêm ít đường cho vừa ăn.

Bún xé ra lọn nhỏ đơm vào tô trộn với rau sống, dưa leo băm. Nếu có củ cải trắng, càrốt sắt sợi thì càng hay. Sau cùng, rắc đậu phộng đập vỡ, rưới nước mắm chua ngọt lên trộn đều, vừa “lua” vừa cắn miếng bánh bột chiên tép trấu – nó giòn rụm mới cảm nhận hết các hương vị thơm ngon của sản vật mùa lũ. Nhất là mùa mưa, lũ tràn về, tép trấu, tép mòng, tép riu loi nhoi, bọt bèo nhưng cũng đã làm nên những hoài niệm khó phai…

Theo Việt Đặng (Sàigòn Tiếp Thị)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Cốm dẹp thơm ngày lễ cúng Trăng

(TTO) - Không chỉ là món ăn truyền thống, với người Khmer Nam bộ, cốm dẹp còn là vật phẩm để cúng Trăng trong lễ Ok-om-bok để tưởng nhớ công ơn mặt trăng, vị thần điều tiết mùa màng, mang lại ấm no hạnh phúc cho con người.

Bà con người Khmer, chủ yếu tại hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh hầu hết sống bằng nghề trồng lúa nước và rẫy bái theo hai mùa mưa nắng. Hằng năm vào ngày 15-10 âm lịch (lịch Khmer gọi là rằm ca đắc) cũng là thời gian thu hoạch hoa màu. Lúa nếp thu hoạch sớm nhất, nên người ta chọn nếp làm cốm dẹp dâng cúng thần mặt trăng và mọi người cùng thưởng thức với hy vọng năm sau mùa màng sẽ tiếp tục bội thu, người người an cư lạc nghiệp.


< Nếp được rang trong nồi đất (mỗi lần chỉ rang 1 tô, khoảng 0,5 kg).

Theo tục lệ cổ truyền, vào đêm rằm, khi mặt trăng vừa lên cao, tỏa sáng khắp mọi nơi, bà con tập trung tại sân chùa hoặc sân nhà để làm lễ cúng trăng, vật cúng thường là bánh, trái, khoai lang và cốm dẹp. Khi hành lễ mọi người cùng quay mặt về hướng mặt trăng cầu nguyện cho gia đình sức khỏe dồi dào, mùa màng tươi tốt.

Cúng xong, vị sãi cả hoặc chủ lễ gọi các em bé đến cùng chắp tay hướng về mặt trăng rồi đút cho mỗi em một vắt cốm dẹp, có khi cốm dẹp kèm theo trái chuối hoặc trái cây với ước mong các em quanh năm no đủ, vui vẻ hạnh phúc và sức khỏe dồi dào.

Vào những ngày này bà con ở Trà Vinh, Sóc Trăng và những nơi có đông đảo bà con người Khmer sinh sống đều rộn ràng quết (giã) cốm dẹp để phục vụ cho ngày hội lớn. Rộn ràng nhất là làng cốm dẹp Ba So ở xã Nhị Trường, huyện Cầu Ngang (Trà Vinh) với hơn 50 gia đình làm cốm dẹp quanh năm, bình quân mỗi hộ quết 5 giạ nếp/ngày. Từ nhiều thập kỷ qua, thương hiệu cốm dẹp Ba So đã lan tỏa khắp các tỉnh miền Tây.

< Quết (giã) cốm dẹp bằng chày (hai người quết, một người giữ cối).

Từ xa xưa, lễ cúng Trăng đã mang một ý nghĩa sâu sắc - một thứ văn hóa tâm linh nên bà con đã dành ra nhiều tình cảm và công sức để hóa thân cây lúa nếp trở thành món bánh truyền thống trong văn hóa ẩm thực Việt Nam và ngày càng thăng hoa.

Muốn có một đĩa cốm dẹp thơm ngon, béo bùi bà con phải chọn cho được loại nếp rặt, vừa chín tới, hạt còn mềm đem về phơi sơ qua rồi cho vào nồi đất rang đến khi nào mùi thơm bốc lên mới đem đi quết.

< Giai đoạn sàng, sẩy cốm dẹp cho sạch cám.

Công đoạn quết rất quan trọng và cũng là bí quyết làm nên chất lượng. Thường phải hai người quết, một người theo dõi túi nếp. Khi quết phải nhanh tay, đều và quết trong vòng 2 phút là kết thúc, vì nếu quất chậm hạt nếp rang sẽ nguội, chày nện xuống không còn tác dụng nữa. Công đoạn kế tiếp là sàng, sảy cho sạch cám, chỉ giữ lại những hạt cốm thơm tho, trắng tuyền.

Trước khi ăn, người ta trộn cốm với dừa nạo, đường cát, thêm chút nước dừa độ chừng 15 phút cho cốm mềm ra, xốp và dẻo. Cốm dẹp có thể ăn bằng muỗng, cuốn bánh tráng ngọt, bánh phồng hoặc dùng lá chuối, lá sen bao lại, hương vị từ lá sẽ toát lên một mùi thơm thoang thoảng, mùi vị tự nhiên và thanh khiết.

< Cốm dẹp đã thành phẩm.

Trong ngày lễ Ok-om-bok, sau khi tiến hành lễ cúng trăng các sư sãi và mọi người quây quần bên nhau để thưởng thức bánh trái và cốm dẹp, cùng hướng về trăng và hồn lúa. Tất cả cùng múa hát và chúc phúc cho nhau trong tinh thần đoàn kết tương thân tương ái.

Người Khmer Nam bộ có ba ngày lễ Tết quan trọng, đó là Dol-ta, Chol-chnam-thmay và Ok-om-bok. Theo phong tục cổ truyền, vào rằm tháng 10 âm lịch hàng năm, khi con trăng tròn đầy là đồng bào Khmer, đặc biệt tại hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh lại long trọng tổ chức lễ Ok-om-bok, còn gọi là lễ cúng trăng, lễ đúc cốm dẹp để tưởng nhớ công ơn mặt trăng.

Năm nay là lần đầu tiên lễ hội Ok-om-bok kết hợp đua ghe ngo của đồng bào Khmer được nâng lên Festival (diễn ta từ ngày 14 đến 17-11 tại Sóc Trăng), được tôn vinh thành lễ hội cấp quốc gia. Do đó, lễ cúng trăng năm nay sẽ được sân khấu hóa một cách trang trọng và mang nhiều ý nghĩa văn hóa của đồng bào dân tộc.

Theo Hoài Vũ (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!