Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặc sản Bến En. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặc sản Bến En. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

10 LOẠI RAU RỪNG ĂN NGON, CHỮA ĐƯỢC BỆNH

10 LOẠI RAU RỪNG - ĐẶC SẢN RAU RỪNG VQG BẾN EN
Rau rừng từ lâu đã là thức ăn vô cùng quý giá. Tuy nhiên nó không chỉ giúp chúng ta no bụng, mà nó còn ẩn chứa nhiều tác dụng chữa bệnh rất hay. 
1. Cải soong: Nasturticum officinale R. Br. Họ Cải Brassicaceae. Cây thảo nhiều năm, bò dài. Mọc hoang ven suối cạn. Được trồng khắp nơi, ngon, bổ, được cả thế giới ưa chuộng. Trong kháng chiến Bác Hồ vẫn thu hái cải soong mọc ven suối Lê Nin
để ăn và làm quà, khuyên cán bộ và dân quanh vùng phát triển loại rau này. Rau có thành phần dinh dưỡng rất cao. Là loại cải duy nhất có chứa iốt làm thức ăn phòng chữa bệnh bướu cổ, giải độc nicôtin của thuốc lá, chống chảy máu, thiếu máu, giảm đường huyết, được nghiên cứu để chống ung thư và rất nhiều bệnh khác.

2. Rau sắng (Rau ngót núi, ngót rừng) Melientha Suavis Pierre. Họ Rau sắng Opiliaceae. Cây gỗ cao 4 – 8m, đường kính thân 25 – 30cm (Khác với các loài rau khác là cây thảo, bụi thấp trên dưới 1m). Rau là ngọn non bánh tẻ hoa, quả, hạt để ăn. Mọc phổ biến ở rừng, ven suối, ven núi đá ở nhiều tỉnh phía bắc Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hoà Bình, Sơn La, Hà Tây (Chùa Hương) miền Nam Việt Nam ở núi Đinh (Đồng Nai).

3. Rau chùm bao (Lạc tiên, Nhãn lồng) Pasiflora foetida L. Thuộc họ Lạc tiên Passifloraceae. Mọc hoang khắp rừng núi hoặc được trồng. Dùng ngọn non của dây lạc tiên làm rau ăn. Có tác dụng an thần gây ngủ. Chữa mất ngủ, ngủ hay mộng mị, hồi hộp tim. Còn dùng để lợi tiểu, tiêu viêm, giảm đau chữa ho, phù nề, viêm da, ngứa lở. Dùng uống trong và đắp ngoài. Khi chữa bệnh phối hợp thêm các vị khác theo yêu cầu cụ thể từng bệnh.

4. Rau tàu bay. Tên khoa học: Gynura crepidioides Benth. Họ Cúc Asteraceae. Có tên Tàu bay vì hoa bay khắp nơi khi có gió. Rau có phổ biến ở các bãi hoang nương rẫy, bìa rừng, khe suối. Còn mọc ở Lào, Campuchia, Trung Quốc. Ngọn và lá non dùng làm rau ăn sống cùng các lá khác khi ăn bánh xèo, vò nát trộn muối, luộc, xào, nấu canh hay muối dưa. Thành phần dinh dưỡng của rau tầu bay như sau % nước 91,1 protein 2,5, lipid 0,2 cellulose 1,6, dẫn xuất không protêin 3,7 khoáng toàn phần 0,9. Trong 1kg thức ăn có protêin tiêu hoá là 18g, calcium 0,8g, phospho 0,3g (Viện chăn nuôi 1979) còn tìm thấy 3,4mg% caroten, 10mg% vitamin C. Để làm thuốc chữa rắn rết cắn dùng lá tươi giã nhuyễn đắp lên vết bị cắn. Rau tàu bay được bộ đội ta thường nói đến trong các loại rau rừng được dùng làm rau ăn.

5. Rau mớp. Mớp gai, chóc gai, rau gai. Sơn thục Lasia spinosa (L) Thw. Họ Ráy Aeaceae cây thảo nguồn gốc Ấn Độ sang các nước khác. Ở nước ta mớp mọc hoang khắp nơi chỗ ẩm ướt, ven suối, bờ ao, bãi lầy, mương rạch từ đồng bằng lên rừng núi. Mọc thành đám. Lá non dùng làm rau luộc ăn hoặc muối dưa.
Để làm thuốc dùng thân rễ, tính mát, vị cay chát. Có tác dụng lợi tiểu mạnh, mát gan, tiêu viêm. Chữa phù thũng, đau nhức, khớp, ngứa lở ngoài da xơ gan cổ chướng (sắc 15 – 20g) trị chứng sốt rét.
6. Rau tai voi (R – lưỡi bò), Pentaphragma gamopetalum Gagnep. Họ Rau tai voi Pentaphragmataceae. Cây thảo mọc ở các vùng núi cao 700 – 1200m (Rừng Lâm Đồng: Đà Lạt, Bảo Lộc, Đồng Nai) Kon Tum (Đác Plây) và Gia Lai (Măng Giang). Tên dân tộc gọi Clonh srơma. Lá và quả nấu canh ăn ngon.
Loài rau tai khác có tên rau tai nai, R bánh lái (Quảng Trị) Pentaphragma sinense Hensl. ex. Wils phân bổ ở Lào Cai, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng. Gia Lai – Kon Tum… Dùng các phần non làm rau ăn.
Rau tai Voi
7. Rau bép (Rau danh) Gnetum gnemon L. var griffithii Markgr. Họ Giây gắm Gnetaceae. Cây bụi. Gặp nhiều ở rừng Tây Nguyên, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc. Lá và hạt đều ăn được, lá nấu canh suông hoặc với thịt ăn ngọt. Hạt rang ăn bùi như lạc.
Với cây bép chưa biết có được dùng làm thuốc không. Còn những loài gần với dây bép như dây gắm (Gnetum montanum Mgf) thì hạt rang ăn, và dây, rễ làm thuốc giải độc, trị sốt rét, chữa tê thấp, bổ huyết.
8. Cải rừng tía. Rau cẩn Viola inconspicua Blume. Họ Hoa tím Violaceae. Cây thảo, mọc ở nhiều nơi thường ở các bãi suối có cát. Dùng phần non luộc, xào vị đắng nhạt, hơi the tính mát, vào tâm, can. Tác dụng làm mát huyết, giải độc, tiêu viêm. Chữa viêm họng, vú, mắt, mụn nhọt. Trong uống ngoài đắp. Chữa quai bị: lấy 40g lá cải tím, 4g phèn chua giã nhỏ đắp. Chữa dịch tả: Lấy cải tía và hương nhu mỗi vị 40g, sắc uống.
9. Rau vẩy ốc (Đơn rau má, cỏ bi) Pratia nummularia (Lam) A. Br. et Aschers (P.begoniifolia (Wall) Lindl), họ Lô biên Lobeliaceae, cây thảo, nằm bò. Phân bố các nước châu Á. Ở nước ta cây mọc nơi ẩm thấp ven rừng, nương rẫy lối đi vào rừng của vùng núi cao 700 – 2000m. Lá và ngọn non nấu canh, để ăn và làm thuốc. Thu hái mùa hạ, thu. Có vị cay đắng, tính bình. Tác dụng lợi tiểu, hoạt huyết, tiêu viêm trừ thấp. Chữa di mộng tinh, khí hư.
10. Rau tầm bóp (Thù lù cái) Physalis angulata L., họ là Solanaceae, cây thảo hàng năm, mọc ven rừng. Quả ăn sống, chồi lá non luộc, nấu canh. Quả còn dùng làm thuốc thanh nhiệt, tiêu đờm, giảm ho, lợi tiểu: Chữa phù thũng. Đắp ngoài chữa đinh nhọt. Rễ tươi nấu với tim lợn và chu sa chữa bệnh đường huyết cao.
Các rau khác có tác dụng phòng chữa bệnh:
- Rau: Rau dớn, R. Mã đề, Rau má, Rau ngót, R mảnh bát, R muối…
- Gia vị: Riềng, Rau mùi tàu (Ngò tàu)
- Thận trọng loại có độc: Sầu đâu (Hoa, lá ăn gỏi sống, luộc) rất đắng.
Chú ý: Quý khách sẽ được thưởng thức các loại món ăn bổ dưỡng, rất tốt cho sức khỏe là các vị thuốc rất tốt cho sức khỏe khi đi du lịch Bến En. Hãy tận hưởng cuộc sống.
Nhanh tay đặt dịch vụ tại trung tâm giải trí Bến En -  0978.845.089 - 0974.857.990 - 0373.557.888
Gặp Chị Công

Đặc sản Thịt Chuột Vườn Quốc Gia Bến En

Đặc sản thịt chuột… ngày Tết!
Nằm ở phía cửa Đông Thành nhà Hồ, làng Đông Môn, thuộc xã Vĩnh Long (Vĩnh Lộc – Thanh Hóa) được biết đến như một ngôi làng cổ xưa, còn lưu giữ lại nhiều nét truyền thống. Nhưng nơi đây còn nổi tiếng với một tục lệ khá lạ lùng: ăn thịt chuột trong ngày Tết. Ngày Tết, nhà nào trong làng không có nồi thịt chuột nấu đông thì xem như không có Tết.

Thịt chuột nấu đông: món “độc”
Không giống với một số làng có nghề săn chuột để bán lấy tiền và kiếm sống, người làng Đông Môn chỉ đào chuột để mang về ăn. Và cũng không phải quanh năm đi đào chuột mà chỉ có trong vòng 2 – 3 tháng cuối năm, giáp Tết Nguyên đán. Vào mùa khô, từ tháng 10 cho đến tháng Chạp âm lịch, sau khi lúa trên đồng đã thu hoạch và vụ đông cũng đã làm xong, dân trong làng lại rủ nhau ra đồng đào chuột đồng để tích trữ chuẩn bị cho ngày Tết. Những nhà nào không đi đào chuột được thì mua lại của nhà khác.
Trong số rất nhiều món ăn của Tết cổ truyền người Việt như bánh chưng, giò chả, dưa hành,… thì Tết của người làng Đông Môn còn không thể thiếu nồi thịt chuột đồng nấu đông. Khách quý đến nhà, ngoài các món khác thì thịt chuột cũng được đem ra để thết đãi. Chẳng cần biết khách ở xa đến có thích món này hay không, và dẫu khách có từ chối không ăn thì gia chủ vẫn cứ mời, bởi đó là tình cảm chân thành của gia chủ dành cho khách.


             Chuột đồng sau khi được chế biến


Theo người làng Đông Môn, thịt chuột để làm thức ăn phải là thịt chuột đồng, và không phải thịt chuột đồng mùa nào ăn cũng ngon. Thời điểm thịt chuột đồng béo và thơm ngon nhất chính là vào cuối vụ đông xuân (từ tháng 10 âm lịch trở đi), chuẩn bị bước sang mùa khô. Lúc này, nguồn thức ăn của chuột đồng dồi dào, ngoài ăn thóc, chuột còn bắt được thêm cả cua, cá từ những kênh, đầm đang cạn nước để ăn. Cách làm thịt chuột đồng của người làng Đông Môn cũng khá “dị”: thay vì nhúng vào nước sôi như một số nơi vẫn làm, người làng Đông Môn vùi chuột vào tro nóng khoảng 3 – 5 phút, sau đó mới lấy ra để chuốt sạch lông. Chuột sau khi đã chuốt lông được thui trên lửa đốt bằng rơm cho đến khi vàng ươm. Cuối cùng, dùng lá xả và lá chanh chà xát lên thân chuột rồi mới mổ thịt. Trong khi mổ thịt sẽ chặt bỏ đầu, đuôi, ruột, và màng mỡ, chỉ giữ lại phần thân.
Tùy theo khẩu vị và ý thích của từng người mà thịt chuột được người làng chế biến ra nhiều món khác nhau như: nướng, quay, xào xả ớt, om dưa, kho… Riêng món nấu đông được coi là món gia truyền của làng trong những ngày Tết.

Đằng sau món ăn là câu chuyện lịch sử
Ngày nay, nhiều người trẻ tuổi trong làng không còn nhớ rõ nguồn gốc ăn thịt chuột có từ khi nào, chỉ biết rằng từ xưa lắm, người làng đã có lệ này, và cứ thế truyền lại cho con cháu. Tuy nhiên, nhiều người cao niên trong làng vẫn còn nhớ câu chuyện lịch sử buồn liên quan đến món ăn này, gắn với di tích Thành nhà Hồ…
Ông Vũ Đình Lún (67 tuổi, người làng Đông Môn) cho biết: Từ thuở nhỏ, mỗi khi hội làng vẫn nghe các cụ cao niên trong làng kể về sự tích của việc ăn thịt chuột ngày Tết. Chuyện kể, tục lệ ăn thịt chuột vào ngày Tết của làng Đông Môn bắt đầu có từ thời nhà Hồ.
Ông Vũ Đình Sén (63 tuổi, người đang trông coi đền thờ nàng Bình Khương, một trong những hạng mục di tích Thành nhà Hồ) thì kể lại, vào năm 1397, Hồ Quý Ly cho khởi công xây dựng thành Tây Đô với ý định dời đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa.

Để đốc thúc việc xây thành, ngoài huy động tất cả quân lính và thợ thuyền ra, Hồ Quý Ly còn bắt hàng vạn dân chúng trong vùng tham gia phục dịch. Công việc xây thành rất khó khăn, nhiều người đã chết vì đá sập, kiệt sức hoặc bị quan lại trách phạt đánh đập. Có người làng đói quá, tối bèn lẻn ra bẻ trộm măng tre (trồng làm lũy xung quanh thành) để về luộc ăn, quan quân bắt được, liền chém đầu và treo trước cổng thành để răn đe.

Khi xây thành, đoạn thành phía Đông qua làng Đông Môn không hiểu sao cứ xây xong lại bị đổ sụp xuống. Nghi ngờ tướng đốc xuất xây thành là Trần Công Sỹ có ý đồ làm phản, Hồ Quý Ly bèn sai người bắt trói và đem chôn sống. Vợ Công Sỹ là nàng Bình Khương biết tin bèn đến để kêu oan cho chồng nhưng không được. Nàng đã đập đầu vào đá chết theo chồng (nay vẫn còn đền thờ dân làng Đông Môn lập để thờ nàng Bình Khương).
Hồ Quý Ly còn trách phạt dân làng Đông Môn vì tội xây thành chậm bằng cách tịch thu hết thóc gạo, trâu bò, lợn gà trong làng để làm thức ăn cho quân lính xây thành. Sắp Tết, không còn gà lợn, dân làng bèn rủ nhau ra đồng đào chuột để về giết thịt ăn Tết. Về sau thành lệ, người dân trong làng cứ đến những ngày giáp Tết là ra đồng đào chuột về ăn, như một sự tưởng nhớ đến người xưa và cũng là để nhắc nhau đừng bao giờ quên câu chuyện dân làng bị trách tội, phải gánh chịu những hình phạt đau thương.

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

THỰC ĐƠN KHU DU LỊCH BẾN EN

DỊCH VỤ TẠI KHU DU LỊCH BẾN EN 2013
THỰC ĐƠN KHU DU LỊCH BẾN EN
I) Ẩm thực đồng quê : 680.000/mâm
1. Cá chép om dưa
2. Ếch đồng chiên giòn
3. Gà hấp lá chanh
4. Chân giò cuốn

5. Nộm thập cẩm
6. Đậu sốt cà chua
7. Rau muống xào
8. Canh cua đồng
9. Cà ghém chấm mắm tép
10. Cơm + Tráng miệng
II) Ẩm thực miền biển : 860.000/mâm
1. Cá biển chiên xù
2. Mực ống xào hành tây
3. Tôm biển tẩm bột rán
4. Sứa biển nộm thập cẩm
5. Canh ngao nấu chua
6. Cá cơm kho mắm
7. Dong biển xào nấm
8. Cà dầm mắm tép
9. Nộm rau diếp cá
10. Cơm trắng + Tráng miệng
 III) Ẩm thực núi rừng 860.000/mâm
1. Hoãng tươi xào hoa chuối
2. Thỏ nấu rượu mận
3. Lợn rừng hấp xả
4. Gà đồi rang muối
5. Nộm hoa chuối rừng
6. Lợn Mường rang cháy cạnh
7. Măng rừng xào nấu
8. Canh cá đắng sông Mực
9. Sung muối ớt
10.  Cơm Lam + Tráng miệng
IV) Đặc sản nhà hàng 900.000/mâm
1. Chim/Gà ri/quay, nướng
2. Cá lăng chiên sốt dầu
3. Thịt dê chao tẩm vừng
4. Trâu nướng cuốn lá lốt
5. Nộm chanh bóp tai lợn
6. Sung ghém chua ngọt
7. Cá ướp thính/Mắm tép trưng
8. Canh chua cá sông mực
9. Ngồng cải luộc chấm trứng
10.  Cơm tấm côt dừa
 Xem thêm ảnh: